1. Tư vấn chia di sản thừa kế cho trẻ em 12 tuổi ?

Chào Luật sư, Tôi có câu hỏi muốn nhờ Luật sư tư vấn dùm về thừa kế: trẻ 12 tuổi cha mất , đứa trẻ này được hưởng thừa kế di sản của ông nội để lại . Mẹ là người giám hộ đương nhiên. Nhưng trong quá trình làm hồ sơ thừa kế thì người mẹ của cháu bé không hợp tác làm hồ sơ thừa kế vì lý do không cần số di sản đó nên hồ sơ phải ngưng vì không có chữ ký của người giám hộ đứa trẻ 12 tuổi.
Trường hợp này tôi phải làm sao để hồ sơ thừa kế được tiếp tục tiến hành. Có phải ra tòa án đế quyết định hay không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ðiều 609 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau:

"Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."

Điều này có nghĩa là bất kỳ người nào cũng có quyền được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Và theo quy định tại Khoản 3, Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 về năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thì:

"3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác."

Theo quy định trên thì người con nhỏ không thể tự mình xác lập, thực hiện việc từ chối nhận di sản thừa kế, mà phải thực hiện thông qua người đại diện là mẹ của cháu.

Điều 620 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc từ chối nhận di sản thừa kế như sau:

“1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

3. Thời hạn từ chối di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế.”

Thời điểm mở thừa kế được hiểu là thời điểm người có tài sản chết; có nghĩa ở trường hợp của bạn, nếu giấy từ chối nhận di sản của người thừa kế được lập trong vòng sáu tháng kể từ ngày người để lại di sản mất thì có hiệu lực. Quá sáu tháng theo quy định của pháp luật thì văn bản đó không có hiệu lực và họ vẫn là thừa kế phần di sản đó sản.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Chia thừa kế cho người thuộc hàng thừa kế thứ nhất ?

Thưa Luật sư.Em có câu hỏi muốn hỏi. Ông A và bà B là vợ chồng có đăng kí kết hôn có tài sản chung là 5 tỉ. Tài sản riêng cuả ông A là 1.5 tỉ. Ông A có những người thân sau. X bố ông A, Y mẹ ông A, Z anh ông A bị tàn tật, L con ông A 17 tuổi, K con ông A 20 tuổi, M con ông A 10 tuổi, N con nuôi ông A 5 tuổi. Trước khi chết ông A để toàn bộ tài sản cho bà C(hàng xóm) .
Hỏi tài sản của ông A được chia như thế nào ? Và số tiền mỗi người được hưởng như thế nào ?
Em xin cảm ơn.

Chia di sản thừa kế cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1.Thứ nhất, xác định quan hệ hôn nhân của ông A và bà B và tài sản của ông A.

Căn cứ Tiểu mục 3 khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 Hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình của Quốc hội:

"a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;"

TH1: Nếu ông A và bà B xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì họ vẫn được coi là vợ chồng.

Căn cứ Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội:

"Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác."

Như vậy, phần tài sản chung 05 tỷ nếu ông A và bà B không có thỏa thuận khác thì tài sản của ông A sẽ là 2,5 tỷ.Vậy tổng tài sản ông A có là 4 tỷ.

TH2: Nếu quan hệ hôn nhân của ông A và bà B không thuộc TH1:

Căn cứ Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Căn cứ Điều 208 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 208. Xác lập quyền sở hữu chung

Quyền sở hữu chung được xác lập theo thoả thuận của các chủ sở hữu, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán."

Như vậy trong trường hợp này thì số tài sản 05 tỷ trên chia dựa trên thỏa thuận của các bên. Vì vậy cần phải căn cứ vào thỏa thuận để xác định tài sản của ông A.

2. Thứ hai về vấn đề chia di sản thừa kế khi ông A mất.

Căn cứ Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015

"Điều 646. Di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết."

Căn cứ Điều 638 Bộ luật dân sự năm 2005:

"Điều 616. Người quản lý di sản

1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra.

2. Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

3. Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo khoản 1 và khoản 2 thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý."

Như vậy thông tin bạn cung cấp thì ông A để lại toàn bộ tài sản cho bà C là hàng xóm nên cần xem xét tư cách của bà C trong giấy tờ mà ông A để lại khi chết.

TH1:Nếu bà C được chỉ định là người quản lý di sản của ông A thì di sản ông A được chia thừa kế theo pháp luật.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;...

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau."

Như vậy cha, mẹ ,vợ, con của ông A sẽ được hường phần di sản bằng nhau. Một suất thừa kế được tính bằng cách lấy tổng tài sản của ông A chia cho những người được hưởng thừa kế theo pháp luật.

TH2: Nếu bà C được chỉ định là người được hưởng di sản trên thì phần di sản đó ngoài được chia cho bà C thì:

Căn cứ Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Do đó người được hưởng di sản sẽ gồm có bố, mẹ, vợ con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động của ông A.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chia thừa kế miếng đất của bố tôi vậy có đúng không ?

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Tư vấn về phân chia di sản thừa kế cho các con ?

Thưa luật sư! Xin luật sư tư vấn giúp. Tôi năm nay 60 tuổi, chồng tôi mất đã lâu. Sau khi chồng tôi qua đời, mọi tài sản như: nhà cửa, cổ phần...đều được các con tôi quy về một mối và sang tên cho tôi. Tất cả các giấy tờ đều được pháp luật công nhận. Nay tôi muốn chia lại tài sản cho các con thì có phải họp bàn với chúng hay của tôi tôi cho ai bao nhiêu như thế nào là việc của tôi?
Tôi có 4 người con, người con cả của tôi không có công ăn việc làm lại dính vào tệ nạn xã hội. Tôi đã xây cho vợ chồng nó một căn nhà 2 tầng và đứng tên nó. Còn căn nhà tôi đang ở, tôi tính cho 3 đứa con còn lại. Cổ phần của tôi và quầy hàng mang tên tôi tôi tính để dưỡng già. Sau khi tôi mất sẽ giao lại cho con thứ để hương hỏa cho tổ tiên, cổ phần thì cho các cháu.Tuy nhiên con cả của tôi cho rằng, nó là con trưởng mà được ít (mặc dù giá trị 3 đứa con trai tính ra tiền mặt là như nhau, con gái ít hơn) và nó luôn tìm cách gây cản trở mỗi khi tôi họp bàn chia tài sản cho các con. Thi thoảng nó lại mượn cớ đến nhà tôi gây sự và quấy nhiễu. Do nó có tính tệ nạn xã hội nên tôi cảm thấy rất khó chịu.
Vậy xin hỏi luật sư, việc cho các con tài sản tôi có thể tự quyết định và đưa ra phường đóng dấu, gửi đó, để sau khi tôi mất các con tôi sẽ được thực thi hay không? Tôi có phải bàn bạc xin chữ ký nhất trí giữa 4 đứa con không? Tôi có thể chia tài sản ngay tức khắc mà không phải di chúc hay không? Làm thế nào để con cả của tôi thôi quấy nhiễu, tham lam và chấp nhận phần của nó và không gây khó khăn cho các em còn lại không?
Xin cảm ơn luật sư tư vấn.

Tư vấn về phân chia di sản thừa kế cho các con ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 609. Quyền thừa kế của cá nhân

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."

Điều 626 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Điều 626. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản."

Như vậy, trường hợp bác muốn lập di chúc thì bác hoàn toàn có thể tự quyết định ai là người thừa kế, ai không được nhận thừa kế và phân định di sản cho từng người thừa kế và các quyền khác theo quy định tại Điều 626. Về hình thức của di chúc được quy định tại Điều 627 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

"Điều 615. Hình thức của di chúc

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng."

Theo đó, trường hợp bác muốn lập di chúc thì di chúc phải được lập thành văn bản, có thể có người làm chứng hoặc không có người làm chứng. Tuy nhiên di chúc bằng văn bản thì phải được công chứng, chứng thực. Trường hợp di chúc của bác có người làm chứng thì cần phải có chữ ký của người làm chứng. Lưu ý theo quy định của pháp luật thì các con bác không được quyền làm chứng cho di chúc của bác. Như vậy thì việc bác lập di chúc không cần phải có sự thỏa thuận hay chữ ký của 4 người con.

Ngoài cách lập di chúc, nếu bác muốn việc định đoạt các tài sản của mình có hiệu lực ngay, thì bác có thể lập hợp đồng tặng cho tài sản cho mỗi người, mà không cần phải lập di chúc. Việc tặng cho tài sản phải có hợp đồng tặng cho tài sản. Hợp đồng tặng cho tài sản được quy định tại Điều 465 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

"Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận."

Việc tặng cho tài sản là động sản hoặc bất động sản được quy định tại Điều 466 và Điều 467 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

"Điều 458. Tặng cho động sản

Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản; đối với động sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

"Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản."

Như vậy, những hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này cần phải được công chứng tại Văn phòng công chứng hoặc phòng công chứng thì mới có hiệu lực pháp luật.

Việc con trai cả của bác thường xuyên quấy nhiễu có thể bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình như sau:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;
b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;
c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất không có di chúc ?

Kính thưa quý luật sư, Tôi có một vấn đề về pháp luật thừa kế mong muốn các luật sư tư vấn giúp. Nội dung sự việc như sau: Bố tôi mất năm 1998 có để lại một mảnh đất trên đó xây dựng căn nhà cấp 4 ba gian ở quê, vợ cả của bố tôi ( có giấy đăng ký kết hôn ) mất năm 2000, giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất trên hiện đứng tên vợ cả của bố tôi.

Mẹ đẻ tôi lấy bố tôi chỉ có sự đồng ý của hai bên họ hàng gia đình, về mặt pháp luật không có giấy đăng ký kết hôn với bố tôi, sau khi lấy bố tôi năm 1989 về ở chung một nhà tại mảnh đất trên. Bố tôi và vợ cả sinh được ba chị gái hiện tại đã đi lấy chồng ở địa phương khác và không sinh sống tại mảnh đất trên, bố tôi và mẹ đẻ tôi sinh được tôi là con trai và một em gái, hiện tại em gái tôi cũng đã đi lấy chồng tại địa phương khác và không sinh sống tại mảnh đất trên. Mảnh đất hiện giờ do mẹ đẻ tôi và tôi sinh sống tại đó, hiện giờ tôi muốn làm thủ tục đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên có được không?

Và nếu được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó thì thủ tục pháp lý gồm những gì? Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho mảnh đất trên là cấp cho hộ gia đình. Bố tôi và vợ cả chết đều không để lại di chúc gì. Hiện giờ đã hết thời hiệu thừa kế theo quy định là 10 năm, tôi và ba chị và em gái không có một sự thỏa thuận nào cho tới giờ, vậy ba chị tôi và em tôi có được chia tài sản không và nếu chia thì mẹ đẻ tôi có được chia không? Hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ cả của bố tôi và do huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây cũ cấp, hiện giờ đã là thành phố Hà Nội thì thủ tục chuyển giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu được gồm những gì. Bố tôi và vợ cả chết đều không để lại di chúc gì ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Công ty Luật Minh Khuê, trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, theo như thông tin bạn chia sẻ, quyền sử dụng mảnh đất hiện tại là tài sản chung của bố bạn và ngưởi vợ cả đã mất. Đây là tài sản hình thành trước khi bố bnaj và mẹ đẻ của bạn chung sống với nhau đo đó quyền dử dụng mảnh đất này là tài sản riêng của bố bạn. Khi bố bạn mất mà không có di chúc, di sản này sẽ được chia theo pháp luật. Căn cứ vào Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005: "Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết". Vì bố mẹ bạn chung sống như vợ chồng mà không có đăng kí kết hôn nên mẹ bạn sẽ không được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng mảnh đất này. Bạn, em gái và ba chị cùng cha khác mẹ sẽ là người có quyền thừa kế di sản này.

Theo khoản 1, Điều 624, Bộ luật dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện về thừa kế:

“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình, hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm với động sản, 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. ”

Tuy nhiên, theo quy định tại điểm 2.4 điều 2 mục I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì trường hợp hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế nêu trên nhưng nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Nghị quyết thì di sản đó sẽ trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế, cụ thể như sau:

Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế nếu các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết ..."

Hiện tại, tuy không có tranh chấp về phần di sản thừa kế giữa các anh, chị, em bạn. Nhưng lại không đưa ra bất kì thỏa thuận nào về việc có thừa nhận di sản do bố bạn chưa chia hay không? hay cùng thỏa thuận là đồng thừa kế bằng văn bản. Vậy nên, ý chí của các đồng thừa kế khác chưa được thể hiện rõ ràng.

Trường hợp 1: Nếu các đồng thừa kế khác công nhận đây là di sản chung chưa chia thì bạn không thể đứng tên trên sổ đỏ nếu không có sự đồng ý của các đồng thừa kế khác

Trường hợp 2: Nếu các đồng thừa kế thừa nhận di sản là quyền sử dụng mảnh đất là của bạn thì bạn có quyền đứng tên trên sổ đỏ.

Thứ hai, tại Điều 85 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai quy định trường hợp khi thay đổi thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất thì người sử dụng đất nộp 1 bộ hồ sơ yêu cầu tới văn phòng đăng ký đất đai để làm thủ tục xin cấp thay đổi thông tin về người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hồ sơ yêu cầu gồm:


- Đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu 10/ĐK, ban hành kèm theo thông tư 23/2014/TT-BTNMT;

- Bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp;

- Trường hợp của bạn muốn thay đổi người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho bố bạn người, do vậy được xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu chung, khi muốn thay đổi người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có văn bản thỏa thuận của tất cả những người đồng sở hữu chung.

- Giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân của người cho và người nhận để được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Cơ quan nhận hồ sơ:

Khoản 3 Điều 106 Luật đất đai năm 2013 quy định đối với trường hợp xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện. Trường hợp của bạn nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai thuộc phòng tài nguyên và môi trường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Con riêng của chồng có được chia di sản thừa kế?

Thưa luật sư, xin hỏi: Con riêng của chồng có được chia di sản thừa kế không ạ ? Cảm ơn!

Trả lời:

Chị Liên hoàn toàn có quyền được chia tài sản, vì ông Hình không để lại di chúc nên di sản được chia theo pháp luật, những người hưởng di sản theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Ðiều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

Đối chiếu với quy định nêu trên và với thông tin bạn cung cấp thì những người thừa kế theo pháp luật của ông Hình bao gồm: An, Hòa, Hợp và Liên

Vậy chị Liên hoàn toàn có thể được chia tài sản vì Liên vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật.

Để được chia tài sản thì chị Liên có thể yêu cầu tòa án nhân dân huyện nơi ông Hình cư trú để được hưởng quyền lợi của mình.Theo quy định tại khoản 5, điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.

8. Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.

9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

10. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.

11. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.”

Nếu những người thừa kế (An, Hòa, Hợp) đã tự thỏa thuận được với nhau thì tôn trọng sự thỏa thuận của họ.

Còn nếu họ không thỏa thuận được với nhau thì: Việc chia đều tài sản cho những người thừa kế An, Hòa, Hợp, Liên là An, Hòa, Hợp sẽ phải thanh toán cho Liên một khoản tiền ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận theo quy định tại Điều 662 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Điều 662. Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế

1. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Như vậy, chị Liên được hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật khi ông Hình chết không để lại di chúc và cùng hàng thừa kế thì mức hưởng bằng nhau.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế- Luật Minh Khuê biên tập

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?