1. Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thuê lại đất?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi muốn hỏi về hợp đồng cho thuê đất để kinh doanh cà phê, điểm tâm. Vào năm 2011 tôi có cho 1 người thuê đất như sau: *Thời hạn thuê đất* là: 06 năm 2 tháng ( bằng chữ: Sáu năm hai tháng), kể từ ngày : 01 tháng 11 năm 2011 đến ngày 31 tháng 12 năm 2017.

* Phương thức thanh toán :* Từ ngày ký hợp đồng đến hết ngày 01/01/2016, phải thanh toán đủ số tiền thuê đất.

+ Đợt 1: *Ngày 01 tháng 11 năm 2011, thanh toán tiền thuê số tiền 200.000.000đồng (bằng chữ: Hai trăm triệu đồng) *

+ Đợt 2: *Ngày 01 tháng 01 năm 2012, thanh toán tiền thuê số tiền 50.000.000đồng (bằng chữ: Năm mươi triệu đồng) *

+ Đợt 3: *Ngày 01 tháng 01 năm 2013, thanh toán tiền thuê số tiền 150.000.000đồng (bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng) *

+ Đợt 4: *Ngày 01 tháng 01 năm 2014, thanh toán tiền thuê số tiền 150.000.000đồng (bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng) *

+ Đợt 5: *Ngày 01 tháng 01 năm 2015, thanh toán tiền thuê số tiền 180.000.000đồng (bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu đồng) *

+ Đợt 6: *Ngày 01 tháng 01 năm 2016, thanh toán tiền thuê số tiền 180.000.000đồng (bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu đồng).

Người đó sau khi ký hợp đồng đã đầu tư xây dựng vào quán, và đã trả tiền quán được đợt 2, đến đợt 3 đã quá hạn trả tiền là 3 tháng, tôi đòi tiền thuê hoài nhưng bên B nói là không kinh doanh nữa, tính cho người khác thuê lại và sang quán, bên tôi cũng đồng ý cho bên B cho thuê lại, nhưng tôi nghe người ta nói khi cho bên B cho thuê lại là rất phiền phức, nên tôi đến phòng công chứng số 1 của sở tư pháp để hỏi, thì người ta nói rất phiền phức khi mình cho bên B cho thuê lại, nếu bên B đã vi phạm hợp đồng là không trả tiền thuê theo như đã đã thỏa thuận thì mình cùng nhau thương lượng và đi đến chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Tôi về cũng thương lượng lại, bên B nói đã đầu tư quán khá nhiều tiền, nếu không cho bên B cho thuê lại thì bên B không chịu, bên B muốn lấy tiền chênh lệch khi cho người khác thuê.

Tôi cũng chấp nhận cho phần chênh lệch cho bên b, nhưng không ký bất kỳ giấy tờ nào, chỉ hứa miệng. Bên B đã chấm đứt hợp đồng vào ngày 28/3/2013, cũng vào ngày này tôi ký hợp đồng với ông C là 4 năm 9 tháng. Tôi và ông C đã thực hiện hợp đồng được 2 năm, phần tiền chênh lệch thuê tôi cũng giữ lời hứa là cho bên B, 1 năm được 66 triệu, 2 năm được 132 triệu Đến 01/4/2015, ông C không có tiền để trả tiền thuê nữa, nên tôi và ông C đã chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, và tôi cũng báo trước cho ông B là ông C chấm dứt hợp đồng thì mình cũng đã chấm hết, bên trả lời là vậy ngay mai lên lấy đồ của bên B về, thì tôi nói là đồ của anh thì anh lấy đi. Qua ngày hôm sau bên B cho người lên đập quán để bán sắt và bích ton cho người ta, bên bán mão cho ông mua phế liệu, và cho ông lên đập quán, tôi không đồng ý và nói đồ bên B tự lấy, nhưng không được đập quán bán như vậy, sẽ ảnh hưởng đến giá trị đất, bên B nói B đã xây dựng, bây giờ B lên lấy lại đồ của B, nếu không cho B sẽ kiện ra tòa.

Như vậy nếu mình không cho B đập bán phế liệu, thì B có quyền kiện ra tòa không vậy thưa luật sư, tôi tính cho người khác thuê , nhưng nếu tôi ký hợp đồng có ảnh hưởng gì đến hợp đồng như đền hợp đồng cho người mới thuê, vì bên B thưa tôi ra tòa.

Kính mong nhờ luật sư giải đáp dùm, tôi thành thật biết ơn!

Người gửi: B.D

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, chúng tôi xin được xác nhận lại một số nội dung mà bạn đã trình bày trong thư:

- Bạn và bên B đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn vào ngày 28/3/2013

- Các tài sản trên đất là do B tạo lập nên.

- B chậm thực hiện nghĩa vụ thành toán đã 3 tháng

Thứ hai, chúng tôi xin được tư vấn như sau với trường hợp của bạn :

Do bạn và bên B đã tiến hành chấm dứt hợp đồng, vì thế nếu bạn không miễn nghĩa vụ thanh toán cho B, Bên B sẽ phải thanh toán đầy đủ các khoản tiền thuê đất tương ứng với thời gian thuê chưa thành toán cho bạn theo qui định của điều 481 Bộ luật dân sự năm 2015

"Điều 481. Trả tiền thuê

1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả tiền thuê thì thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếu không thể xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài sản thuê.

2. Trường hợp các bên thỏa thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Về vấn đề bên B đạp phá các tài sản trên đất để bán:

Vì đây là tài sản do bên B tạo lập ra trong quá trình thuê vì thế, họ có quyền định đoạt với tài sản này. Việc bạn yêu cầu bên B không được đập phá tài sản chỉ phù hợp nếu việc đập phá đó thực sự là giảm sút giá trị mảnh đất theo qui định dưới đây:

"Điều 461. Trả lại tài sản thuê

1. Bên thuê phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên hoặc theo đúng như tình trạng đã thỏa thuận; nếu giá trị của tài sản thuê bị giảm sút so với tình trạng khi nhận thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ hao mòn tự nhiên.

2. Trường hợp tài sản thuê là động sản thì địa điểm trả lại tài sản thuê là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cho thuê, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Trường hợp tài sản thuê là gia súc thì bên thuê phải trả lại gia súc đã thuê và cả gia súc được sinh ra trong thời gian thuê, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Bên cho thuê phải thanh toán chi phí chăm sóc gia súc được sinh ra cho bên thuê.

4. Khi bên thuê chậm trả tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê trả lại tài sản thuê, trả tiền thuê trong thời gian chậm trả và phải bồi thường thiệt hại; bên thuê phải trả tiền phạt vi phạm do chậm trả tài sản thuê, nếu có thỏa thuận.

5. Bên thuê phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản thuê trong thời gian chậm trả."

Tuy nhiên, Nếu việc đập phá quán của bên B gây ảnh hưởng tới bạn và những người xung quanh. Bạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp, theo đó, Hành vi của B có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP như sau:

" Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng....

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;"

Hợp đồng giữa bạn và bên B đã chấm dứt. Tuy nhiên, tài sản này đang có tranh chấp vì vậy Bạn không được phép cho thuê lại theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013 như sau:

" Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất....

b) Đất không có tranh chấp;"

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Chúc bạn thành công! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai là gì ? Tranh chấp tài sản thừa kế

2. Tranh chấp Bất động sản liền kề thực hiện như thế nào ?

Hai nhà nhùng nhằng cái vách tường Nhà phố liên kế xây dựng theo kiến trúc thời cũ, mỗi nhà thường được hưởng một nửa bề dày bức tường chung.

Mới đây, VKSND thị xã Bạc Liêu đã kháng nghị bản án sơ thẩm của tòa thị xã vụ hai nhà hàng xóm ở nhà liên kế kiện tranh nhau một bức tường. VKS cho rằng bản án trên đã vi phạm phạm vi xét xử, HĐXX xác định chứng cứ không đúng khi tuyên án.

Bức tường xây hơn 50 năm

Ông N. trình bày, mấy năm trước, bà hàng xóm cất nhà đã xây bốn cây cột lấn qua bức tường nhà ông. Ông đã yêu cầu bà này dừng xây cất, không được xâm phạm vào bức tường riêng của ông.

Bà hàng xóm thì bảo nhà bà và Ông N. nằm trong dãy nhà được xây dựng cách đây hơn 50 năm, theo kiến trúc thời cũ, sử dụng chung một vách tường dày 20 cm. Việc này được thể hiện rất rõ trong bản vẽ hiện trạng nhà đất và được những người sống lâu năm ở đây xác nhận. Do vậy, bức tường trên là của chung, mỗi bên nhà được quyền sở hữu một nửa bề dày. Bà yêu cầu tòa bác bỏ đơn của ông N. và buộc ông phải bồi thường thiệt hại gần 50 triệu đồng vì đã ngăn bà xây nhà.

Tranh chấp Bất động sản liền kề: Hai nhà nhùng nhằng cái vách tường

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tòa, viện không thống nhất

Sau khi nghiên cứu, tòa cũng nhìn nhận bức tường giữa hai nhà được xây đã lâu, bề dày như các bên trình bày, còn nó thuộc của riêng ai thì cần phải xem xét thêm. Do vậy, tòa đã có văn bản đề nghị cơ quan chức năng cung cấp hồ sơ liên quan đến quá trình hợp thức hóa một trong hai căn nhà. Tuy nhiên, sau đó cơ quan được yêu cầu trả lời rằng hồ sơ bị… thất lạc, không tìm thấy.

Thế là tòa phải đi xuống khảo sát thực tế. Kết quả đo đạc diện tích của nhà bà hàng xóm (không bao gồm bức tường) đúng với giấy tờ nhà đất của bà. Còn diện tích thực tế nhà ông N. so với giấy tờ hụt đúng bằng diện tích bức tường dày 20 cm. Từ kết quả này, tòa tuyên “Bức tường trên là của ông N.”, bác yêu cầu phản tố của bà hàng xóm.

Ngay sau đó, VKSND thị xã Bạc Liêu đã kháng nghị cho rằng tòa dựa vào kết quả đo đạc để công nhận bức tường thuộc quyền sở hữu của nhà ông N. là không có căn cứ. Theo viện, đây là dãy nhà liên kế (có tường chung) được xây dựng từ rất lâu. Tòa cần căn cứ vào bản vẽ hiện trạng để xác định tường nhà của ai khi mà giấy tờ nhà đất của hai nhà không thể hiện về bức tường. Tòa không thể nói diện tích nhà ông N. thiếu nên phải cộng cả bức tường vào cho đủ.

Chưa kể, hai bên tranh chấp bức tường, khi ra phán quyết, tòa lại công nhận luôn một phần diện tích đất cho ông N. và nhầm lẫn trong cách tính án phí. Điều này đã vượt quá giới hạn, phạm vi xét xử. Do vậy, viện kiến nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án để xét xử lại…

Bản vẽ hiện trạng là chứng cứ quan trọng

Qua nội dung vụ án có thể thấy hai căn nhà trên được xây dựng theo kiến trúc khá phổ biến trước đây là nhà phố liên kế, sử dụng tường chung. Thông thường, trong quá trình sử dụng, mỗi nhà có quyền sở hữu một nửa bề dày bức tường.

Tòa nên khảo sát những căn nhà liên kế tương tự trong cùng dãy. Nếu tất cả có cùng chung kiến trúc và đều có tường chung ngăn cách thì có thể xác định đây là bức tường chung. Ngoài ra, bản vẽ hiện trạng cũng là một trong các chứng cứ quan trọng để tòa xem xét trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và đất không xác định rõ tình trạng của bức tường. Bởi vì bản vẽ hiện trạng là một tài liệu không thể tách rời hồ sơ nhà đất…

Theo tôi, kháng nghị của VKS thị xã có cơ sở. Tòa án cấp phúc thẩm cần xem xét lại một cách khách quan, toàn diện, tránh việc xét xử bị sai sót, ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của đương sự.

Luật sư LƯƠNG KHẢI ÂN, Đoàn Luật sư TP.HCM

THÔNG TIN CẬP NHẬT:

Mới đây, TAND tỉnh Bạc Liêu đã xét xử phúc thẩm vụ tranh chấp bức tường chung giữa nguyên đơn là ông PQN với bị đơn là bà L.T.T.

HĐXX đã chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T., kháng nghị của VKSND tỉnh Bạc Liêu, sửa án sơ thẩm, tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông N. đòi sở hữu bức tường chung.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

3. Giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất đai ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Ông A mua mảnh đất có chiều rộng là 15m, chiều dài 40m của bà Ninh và chưa đăng bộ trên đất đó. Thực tế trên sổ đỏ chỉ có 8,5m chiều rộng và 40m chiều dài thôi. Sau đó ông A mới bán cho nhà tôi một nửa đất đó tức là 7,5m ngang và 40m dài.

Khi ba tôi mua đất đó còn là đất nông nghiệp, nhưng mà nhà tôi xây nhà xong mới chuyển qua đất thổ cư tại tỉnh Lâm Đồng. Sau đó, ông A tiếp tục bán luôn cho ông C một nửa đất còn lại. Diện tích cũng bằng với đất mà ba em mua, cùng là 7,5m ngang và 40m dài. Trong việc mua bán này, ông A chỉ làm hợp đồng chuyển nhượng sang cho ba tôi thôi ( đầy đủ thủ tục) còn việc mua bán giữa ông A với ông C thì chỉ là giấy tay. Sau đó, ông A giao hết hồ sơ cho ba tôi và ông C đi làm thủ tục tách thửa và làm sổ đỏ mới. Nhưng đi 4 lần vẫn không được vì người ta lấy lý do không đủ diện tích đất để cấp sổ. Vì cần tiền để mở quầy thuốc nên ba tôi mang hồ sơ đất đó ra huyện làm sổ đỏ và được người ta cấp sổ mới đứng tên của tôi. (ba tôi tặng cho em phần đất mới mua này, có cả nhà trên đó.). Trên sổ mới diện tích là 8,5 chiều rộng, 40m chiều dài. Khi có sổ rồi, ba tôi mang sổ mới đi thế chấp ngân hàng để vay vốn mà mở nhà thuốc cho tôi, trên chính đất đó. Giờ ông C đòi đất và kêu ba tôi cướp đất của ổng. Ổng dọa sẽ kiện ba tôi. Ba tôi không yên tâm nhưng cũng không biết phải làm thế nào?

Tôi mong Luật sư tư vấn giúp gia đình tôi. Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: L.H

- Trong trường hợp của bạn, ông A làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ba của bạn với S = 7,5 x 40 (m2) nhưng khi ba của bạn đi đăng kí sổ đỏ mới thì S=8,5x40m. Căn cứ vào Khoản 2, Khoản 3 Điều 70 Luật đất đai 2013quy định về Trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất:

"2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:

a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.

Trường hợp đăng ký tài sản gắn liền với đất thì xác nhận hiện trạng tài sản gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì xác nhận tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản; đối với nhà ở, công trình xây dựng thì xác nhận thời điểm tạo lập tài sản, thuộc hay không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng, sự phù hợp với quy hoạch được duyệt; xác nhận sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng nếu chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;

b) Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại Điểm a Khoản này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);

c) Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

3. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai thì gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo quy định tại Khoản 2 Điều này;

b) Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất ở nơi chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng hiện trạng ranh giới sử dụng đất đã thay đổi hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);

c) Kiểm tra, xác nhận sơ đồ tài sản gắn liền với đất đối với tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư mà sơ đồ đó chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;

d) Kiểm tra hồ sơ đăng ký; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào đơn đăng ký;

đ) Trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không có giấy tờ hoặc hiện trạng tài sản có thay đổi so với giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý nhà nước đối với loại tài sản đó. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, cơ quan quản lý nhà nước đối với tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký đất đai;

e) Cập nhật thông tin thửa đất, tài sản gắn liền với đất, đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có);

g) Trường hợp người sử dụng đất đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính, trừ trường hợp không thuộc đối tượng phải nộp nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ theo quy định của pháp luật; chuẩn bị hồ sơ để cơ quan tài nguyên và môi trường trình ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; cập nhật bổ sung việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp, trường hợp hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại cấp xã thì gửi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Ủy ban nhân dân cấp xã để trao cho người được cấp."

- Vậy trong trường hợp này cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải kiểm tra, đo đạc, xác minh diện tích đất trên thực tế. Nhưng ở đây diện tích mà ba bạn được cấp trên giấy tờ lại nhiều hơn so với phần diện tích đất là ông A chuyển nhượng cho ba của bạn. Vậy lúc này cơ quan nhà nước có chức năng đã cấp sai.

- Vì bạn không nêu rõ thời gian,địa điểm nên chúng tôi không thể biết việc chuyển nhượng đất giữa ông A và ông C, ông A và ba của bạn là từ bao giờ và ở đâu nên chúng tôi xin đưa ra các trường hợp để phân tích. Vì việc chuyển nhượng đất giữa ông A và ông C chỉ là giấy viết tay và hiện nay ông C cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông C không thể khởi kiện gia đình bạn vì không có đầy đủ căn cứ. Nếu bây giờ ông C muốn khởi kiện ba của bạn thì trước hết ông C phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

+ Ông C được chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước ngày 1/7/2004 hoặc thuộc trường hợp đặc biệt

Căn cứ vào Điều 101 Luật đất đai và Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai:

"1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Nếu ông C sử dụng đất thuộc một trong hai trường hợp nêu trên thì ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ba bạn có thể bị khởi kiện.

+ Ông C không thuộc trường hợp quy định tại Điều 101 Luật đất đai: tức là không có hộ khẩu thường trú tại địa phương trong quy định, hoặc sử dụng đất sau ngày 1/7/2014 hoặc sử dụng trước nhưng có tranh chấp về đất đai, ... thì ông C không thể khởi kiện ba của bạn.

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Hy vọng chúng tôi đã giúp bạn giải quyết vấn đề! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

4. Tranh chấp đất đai khi tài sản đang thế chấp ở ngân hàng ?

Thưa luật sư, cho tôi hỏi nợ xấu có mấy loại, nếu tôi không có khả năng trả tiền cho ngân hàng thì tôi có được quyền khất nợ hay yêu cầu ngân hàng dãn nợ cho tôi được hay không? Tôi vay tín chấp khoản vay 50 triệu đồng của ngân hàng bằng thang bảng lương, nay tôi làm ăn thua lỗ, tôi không có khả năng trả lại tài sản cho ngân hàng, liệu tôi có còn cách nào để nói chuyện với ngân hàng để không bị kiện trước Tòa án hay không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

1. Nghĩa vụ của bên cho vay (ngân hàng) và bên vay ?

Theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015 thì:

- Nghĩa vụ của bên cho vay
Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận.
Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.
Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác.
- Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định; Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Nợ quá hạn là gì? nợ quá hạn có phải nợ xấu không ?

Tổ chức tín dụng chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà khách hàng không trả được nợ đúng hạn theo thỏa thuận và không được tổ chức tín dụng chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ; thông báo cho khách hàng về việc chuyển nợ quá hạn. Nội dung thông báo tối thiểu bao gồm số dư nợ gốc bị quá hạn, thời điểm chuyển nợ quá hạn và lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn.

3. Có bao nhiêu nhóm nợ xấu? được xác định như thế nào?

Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo năm (05) nhóm như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định.

4. Khách hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ khi nào ?

Tổ chức tín dụng xem xét quyết định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên cơ sở đề nghị của khách hàng, khả năng tài chính của tổ chức tín dụng và kết quả đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, như sau:
- Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay và được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo kỳ hạn trả nợ được điều chỉnh, thì tổ chức tín dụng xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay đó phù hợp với nguồn trả nợ của khách hàng; thời hạn cho vay không thay đổi.
- Khách hàng không có khả năng trả hết nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay đúng thời hạn cho vay đã thỏa thuận và được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định sau thời hạn cho vay, thì tổ chức tín dụng xem xét cho gia hạn nợ với thời hạn phù hợp với nguồn trả nợ của khách hàng.
- Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ được thực hiện trước hoặc trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày đến kỳ hạn, thời hạn trả nợ đã thỏa thuận.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn về vấn đề của bạn.Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Chỉnh sửa thông tin trên sổ đỏ như thế nào ? Cần làm gì khi Nhà nước ghi sai thông tin trên sổ đỏ ?

5. Tự ý đổi tên trong sổ đỏ có vi phạm pháp luật đất đai ?

Thưa Luật sư! Ông bà nội em có 6 người con trong đó chỉ có bố em là trai, ông bà sở hữu miếng đất diện tích khoảng 750m2. Các cô, bác em đều có gia đình và ở riêng. Ông em mất sớm (năm 1981) không để lại di chúc. Bà nội sống cùng bố mẹ em trên mảnh đất đó.
Đến năm 1994 sau khi chia ruộng đất (năm 1992) và cấp lại sổ đỏ thì bố em đứng tên trong sổ đỏ mà không xin ý kiến hay bất kỳ sự đồng ý nào từ bà nội em. Sau vài năm thì bố mẹ em có làm lại sổ đỏ (vì có mua thêm đất dôi dư để miếng đất vuông hơn). Lúc này sổ đỏ đứng tên cả bố và mẹ em đồng thời lúc đó bà nội em mới biết. Tuy nhiên nghĩ là có 1 mình bố em là con trai và đằng nào cũng sống chung với bố mẹ em nên bà không đòi thu hồi lại đất. Năm 2014 bố mẹ em đã có bán 100m2 và hiện tại bố và mẹ em đang đứng tên trong sổ hồng. Nhưng đến nay bố em có quan hệ với người khác và có con riêng và đòi ly dị với mẹ em sau đó chia lại đất. Cả gia đình và 2 bên nội ngoại đều không đồng ý và bà em có ý định đòi lại quyền sử dụng đất để làm di chúc cho 2 anh em em ( Bố mẹ em sinh được 2 con trai: Em sinh năm 1987 đã có gia đình và em trai em sinh năm 1992 chưa lập gia đình).
Vậy xin hỏi luật sư Việc bố em tự ý chuyển quyền sử dụng đất từ tên ông nội em sang tên bố em mà không được sự đồng ý của bà nội em ( không có hợp đồng mua bán, tặng, cho, thừa kế...) có vi phạm pháp luật không? Bà nội em có thể làm đơn để thu hồi lại quyền sử dụng đất không? Nếu có thì thủ tục thế nào và nếu bà em muốn làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho 2 anh em em thì sao?
Em cảm ơn!

Tranh chấp đất đai khi tài sản đang thế chấp bị nợ nhóm 5 ở ngân hàng?

Tổng đài tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến (24/7) gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp 1: Theo như bạn cung cấp thì nếu như đây là tài sản riêng của ông bạn, ông đã mất từ năm 1981 và không để lại di chúc gì. Theo nguyên tắc, mảnh đất đứng tên ông, ông mất không có di chúc thì mảnh đất này trở thành di sản thừa kế và di sản được phân chia theo pháp luật. Đến nay, đất xảy ra tranh chấp, bà bạn muốn đòi lại phần đất, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

"Điều 623. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Tính đến thời điểm hiện tại thì thời hiệu để khởi kiện về thừa kế (là mảnh đất này) đã hết. Do đó việc đòi lại đất sẽ khó xác định cho bà bạn cũng như những người cùng hàng thừa kế theo Điều 623 Bộ luật dân sự 2005.

Trường hợp 2: Ông và bà đều đứng tên miếng đất diện tích khoảng 750m2. Năm 1994, bố bạn tự ý đổi tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có sự đồng ý của bà là bất hợp lí. Hơn nữa, căn cứ theo Điều 64 Luật đất đai 2013:

Không được chuyển quyền sử dụng đất trong những trường hợp sau đây:

1- Đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp;

2- Đất giao cho các tổ chức mà pháp luật quy định không được chuyển quyền sử dụng;

3- Đất đang có tranh chấp.

Như vậy, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời điểm đó khi cấp phải xem xét mảnh đất có tranh chấp hay không cũng như xem xét các giấy tờ liên quan như tặng cho, thừa kế,... (vì giấy tờ đang đứng tên ông bà nay chuyển sang tên bố bạn, như vậy rõ ràng có sự chuyển quyền sử dụng đất). Do đó việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có một phần sai sót từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Tuy nhiên trên thực tế, bố mẹ bạn cũng mua một phần đất chung, năm 2014 đã bán 100m2 đất cho người khác nê việc đòi lại thời điểm hiện tại sẽ khắ phức tạp, tuy vậy bà bạn vẫn có thể khởi kiện yêu cầu đòi lại với phần đất còn lại hiện giờ (trừ phần đất mà bố mẹ bạn mua chung nếu có) căn cứ theo Điều 166 Luật đất đai 2013 quy định về quyền của người sử dụng đất:

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Theo Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 của Quốc hội; Bộ Luật Tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội; Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội thì trình tự, thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai tại Tòa án như sau:

1. Hồ sơ khởi kiện đất đai để Tòa án thụ lý:

a. Làm đơn khởi kiện, Người khởi kiện phải ký vào đơn khởi kiện, đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
– Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện.
– Tên Toà án nhận đơn khởi kiện.
– Tên, địa chỉ của người khởi kiện.
– Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có.
– Tên, địa chỉ của người bị kiện.
– Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có.
– Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
– Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.
– Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án.

b. Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp:

Như: giấy tờ về nguồn gốc đất đai, chứng cứ liên quan đến việc khởi kiện, Tòa án chỉ giải quyết những tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền gồm:
– Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

– Đối với đất không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các giấy tờ theo quy định của pháp luật để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như:

“a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.”

(Điều 100 Luật đất đai năm 2013)

Thì đương sự sẽ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

– Giải quyết tranh chấp về tài sản gắn liền với đất

2. Thủ tục nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án

a. Cách thức gửi hồ sơ khởi kiện:

– Nộp trực tiếp tại Toà án.

– Gửi đến Toà án qua bưu điện: Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

b. Nộp tạm ứng án phí để Tòa án thụ lý vụ án:

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

Toà án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì Toà án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về lối đi chung/đường đi nội bộ trong gia đình theo quy định pháp luật ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền khác đối với tài sản bao gồm những quyền nào?

Trả lời:

Quyền khác đối với tài sản bao gồm:

a) Quyền đối với bất động sản liền kề;

b) Quyền hưởng dụng;

c) Quyền bề mặt.

Câu hỏi: Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng

Trả lời:

Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.

Câu hỏi: Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định như thế nào?

Trả lời:

Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.