1. Có được sửa chữa trên nhà đang tranh chấp không?

Chào luật sư, Nhà tôi là căn nhà cấp 4 - nhà tình thương, xóa đói giảm nghèo của phường. Nay đã xuống cấp và mục nát trầm trọng, vậy tôi có được sửa chữa nhà không. Trong khi căn nhà đó đang bị tranh chấp ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Cảm ơn luật sư.
Người gửi : Phạm Thị Uyên Phương

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo trình bày của bạn thì thửa đất này đang có tranh chấp, theo quy định tại Điều 122 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về việc cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp như sau:

"Điều 122. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó"

Theo quy định trên,việc bạn có hành vi tháo gỡ sửa chữa nhà cửa mà căn nhà đó đang trong tình trạng tranh chấp được xem là hành vi thay đổi hiện trạng của tài sản đang tranh chấp, do đó, hành vi này là không đúng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, khi bạn có hành vi sửa chữa, tháo gỡ nhà cửa là thay đổi hiện trạng tài sản của tòa án, người đang tranh chấ với bạn có thể yêu cầu tòa án sử dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 mà cụ thể là biện pháp "Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp".

" Điều 114. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.

4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.

7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.

9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.

11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.

14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

15. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu.

16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định"

Như vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai mà tòa án có căn cứ cho thấy bạn có hành vi tháo bỏ hoặc sửa chữa nhà cửa làm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp thì tòa án sẽ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm ngăn hành vi này tiếp tục xảy ra khi người đang có tranh chấp với bạn có yêu cầu. Do đó, bạn nên giữa nguyên hiện trạng của căn nhà để không có những tình tiết gây khó khăn cho bạn.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Tư vấn giải quyết tranh chấp việc sử dụng đất lâm nghiệp ?

Kính gửi Luật Minh Khuê, Tôi là VĐL, ở phường Bãi Cháy, TP Hạ Long, Quảng Ninh. Tôi là một Cựu chiến binh, tuổi cao sức yếu, nay trồng chung được mấy hecta vải thiều. Do hoàn cảnh khó khăn nên xin được tư vấn miễn phí. Nhưng tôi gửi câu hỏi về Luật Minh khuê từ ngày 15/3/2015, vẫn chưa được trả lời.
Nay tôi gửi câu hỏi lần thứ hai, kính mong được Luật Minh Khuê quan tâm giúp đỡ, tôi xin chân thành cám ơn ! Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê Gia đình tôi và gia đình ông H. cùng trồng chung một vườn vải thiều, theo phương thức: Cùng đầu tư tiền vốn, công sức lao động và ăn chia sản phẩm. Diện tích 09 ha, được cấp đất trồng cây ăn quả thời hạn 40 năm (hiện vẫn còn thời hạn sử dụng), chia làm hai Sổ: Một sổ đứng tên bà L (vợ ông H) có diện tích 05 ha, một sổ ông Lộc đứng tên diện tích 04 ha.Làm một nhà nhỏ, thuê anh rể vợ ông H trông coi, bảo vệ. Sổ giao đất trồng cây ăn quả có ghi rõ lô, khoảnh, tiểu khu, nhưng là Vườn chung, không phân biệt đất của ai và cây vải của ai.(Thỏa thuận bằng miệng chứ không có giấy tờ gì). Chúng tôi lập 2 cuốn sổ ghi chép cụ thể quá trình, chi phí trồng cây, chăm sóc, thu hoạch và phân chia tiền lời, đại diện từng gia đình ký xác nhận (gia đình ông Lộc phân công vợ là bà Q theo dõi, ghi chép và ký xác nhận; tương tự gia đình ông H phân công vợ là bà L), mỗi gia đình giữ một cuốn. Duy trì được 19 năm không có điều tiếng gì. Nay gia đình ông H tự ý triệt hạ vườn vải, lập một sổ mới đứng tên bà L (vợ ông H), có diện tích trùm lên vườn vải chung của hai nhà (trong đó trùm lên diện tích Sổ đã giao đất cho ông Lộc trồng cây ăn quả thời hạn 40 năm).
Rồi tuyên bố loại bỏ gia đình ông Lộc ra khỏi Vườn vải chung của hai nhà. Khi gia đình ông H. thuê người mang cưa máy đến phá vải, tôi đã gặp gia đình ông H. để can ngăn, phản đối; nhưng sau đó lại tiếp tục phá hết vườn vải. Vì ông H là cán bộ lãnh đạo, nên tôi đã gặp vị đứng đầu của huyện phản ảnh và nhờ can ngăn ông H, nhưng không kết quả. Để đòi quyền lợi cho gia đình, tôi đã làm đơn gửi cơ quan chức năng, tố cáo hành vi chiếm đoạt và hủy hoại tài sản công dân của ông H, bà L; nhưng cơ quan chức năng cho là vụ việc “tranh chấp đất lâm nghiệp giữa hai gia đình và ông H không liên quan vì Sổ giao đất đứng tên bà L (vợ ông H), phần ký nhận nhận đầu tư, chi phí, chia tiền lời đều là bà L ký”. Tôi phản đối cách giải quyết, vì họ đã bênh che cho ông H là lãnh đạo huyện. Tôi làm đơn gửi lần thứ hai tố cáo hành vi vi phạm pháp luật hình sự của ông H, bà L; đồng thời minh chứng thêm sự liên quan của ông H: Vì ông H là chủ gia đình, là chồng bà L, gia đình ông H đã đầu tư vào Vườn vải chung hai nhà 61 triệu đồng, được chia lời 300 triệu đồng (đều được bà L (vợ ông H) ký nhận). Nhưng vẫn được trả lời là “ tranh chấp việc sử dụng đất lâm nghiệp giữa hộ gia đình ông bà và bà L” và “về sự liên quan của ông H chưa đủ căn cứ để thẩm tra, xác minh”.
Xin hỏi hành vi của ông H, bà L có vi phạm pháp luật hình sự hay không? Cơ quan chức năng cho là ông H không liên quan, có đúng không? Tôi phải làm gì để đòi quyền lợi cho gia đình mình?
Tôi xin cám ơn!
Người hỏi: VĐL

Có được sửa chữa trên nhà đang tranh chấp không?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

1. Thứ nhất về vấn đề hành vi của ông H, bà L có vi phạm pháp luật hình sự hay không ?

Căn cứ Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

Điều 178 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

Như vậy để xem xét hành vi của ông H có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không cần dựa vào các yếu tơ cấu thành của tội phạm quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

•Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi khách quan:

Huỷ hoại tài sản là làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng không thể khôi phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn

Làm hư hỏng tài sản là làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản và giá trị sử dụng bị giảm đó có thể khôi phục được (có thể khôi phục lại như cũ, nhưng có thể chỉ khôi phục lại được một phần).

Hậu quả:

Hậu quả của hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là giá trị hoặc giá trị sử dụng của tài sản bị huỷ hoại hoặc hư hỏng. Giá trị hoặc giá trị sử dụng của tài sản là thiệt hại do hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng gây ra chứ không phải giá trị hoặc giá trị sử dụng ban đầu của tài sản khi chưa bị huỷ hoại hoại hoặc làm hư hỏng.Do đó giá trị tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng là hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm,

Như vậy trong trường hợp này thì mặc dù ông H đã có hành vi hủy hoại tài sản của tuy nhiên chưa rõ giá trị tài sản bị hủy hoại là bao nhiêu nên không có căn cứ để khẳng định hanh vi trên có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không.

2.Thứ hai về vấn đề cơ quan chức năng cho là ông H không liên quan, có đúng không?

Căn cứ Điều 2 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ Điều 17 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Do đó mặc dù ông H không trực tiếp thự hiện hành vi trên tuy nhiên việc gia đình ông H thuê người chặt phá vải thấy dấu hiệu chỉ huy việc thực hiện hanh vi trên nên hành vi thuộc trường hợp đồng phạm.

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

3. Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán đất ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Ngày 10-8-1995, gia đình chúng tôi có mua một lô đất nông nghiệp của ông A với kích thước 10m*100m = 1000m2 ( có giấy tờ sang nhượng và giấy xác minh của phường, nhưng chưa có bìa đỏ). Sau đó, gia đình tôi sang nhượng lại cho bà B 500m2 khu đất trên. Phần còn lại gia đình tôi sử dụng làm vườn và không có ai tranh chấp. Đến tháng 1-2003, gia đình tôi sang nhượng một phần lô đất với diện tích 220m2 cho ông C, (nhưng khi làm giấy tờ ông C lại ghi tên con là D, lúc đó mới 16 tuổi).

Lô đất trên khi ông C mua xong để trống, không sản xuất và không nộp thuế từ năm 2003 đến nay. C và D với thái độ và hành động tham lam bằng mọi thủ đoạn làm giấy tờ sang nhượng đất giả ghi tên là ông E, sửa chữa kích thước trong giấy sang nhượng của tôi để chiếm đoạt phần đất còn lại của gia đình tôi. Tôi đã gửi đơn tố cáo lên UBND phường, phường đã triệu tập nhiều lần hòa giải. Hội đồng hỗ trợ đền bù Thành phố cũng đã mời ông C nhiều lần nhưng ông đều cố tình không lên dự hòa giải (có giấy triệu tập kèm theo). Trong các lần hòa giải đều có mặt của ông E, ông cũng khẳng định không sang nhượng lô đất cho ông C (có giấy tờ kèm theo).

Mãi đến ngày 14-9-2009, trước sức ép của chính quyền, ông C và D vắng mặt không có lý do, UBND phường đã tiến hành hòa giải, hai bên phải làm theo biên bản chấp hành ngày 2-11-2010. Sau đó, gia đình tôi quyết định xây bờ rào trên lô đất còn lại của chúng tôi, nhưng ông C đã thuê các thanh niên lạ mặt đến đập phá nhiều lần (có mọi người chứng kiến và hình ảnh hiện trường kèm theo).

Mới đây, ông C lại xây tường rào trên lô đất đang tranh chấp của gia đình tôi. Các hành vi của ông C vi phạm quy định nào của pháp luật? Mong luật sư giúp tôi tư vấn trường hợp của gia đình tôi.

Tôi xin cám ơn.

Người gửi: H.H.

Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán đất ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo Khoản 7, Điều 166, Luật Đất đai 2013 quy định về quyền của người sử dụng đất là: Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Theo Khoản 2 và Khoản 3, Điều 15, Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội;phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống baọ lực gia đình : vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác.

"2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;
b) Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý;
c) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản;
d) Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;
đ) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có;
e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm a, b, c Khoản 1; Điểm c, đ, e Khoản 2 Điều này."

Theo Điều 178, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

"Điều 178 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

..."

Theo Điều 14, Nghị định 92/2019/NĐ-CP: Lấn, chiếm đất

Điều 14. Lấn, chiếm đất

1. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta;

b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

d) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

2. Trường hợp lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

d) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

3. Trường hợp lấn, chiếm đất nông nghiệp là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn, thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,02 héc ta;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,02 héc ta đến dưới 0,05 héc ta;

c) Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

d) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

e) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

4. Trường hợp lấn, chiếm đất phi nông nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta;

b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

c) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

d) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

5. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này) tại khu vực đô thị thì mức xử phạt bằng 02 ln mức xử phạt đối với loại đất tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này và mức phạt tối đa không quá 500.000.000 đồng đối với cá nhân, không quá 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức.

6. Trường hợp lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình và đất công trình có hành lang bảo vệ, đất trụ sở làm việc và cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thì hình thức và mức xử phạt thực hiện theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở; trong lĩnh vực về giao thông đường bộ và đường sắt; trong lĩnh vực về văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; trong lĩnh vực về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão; trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các lĩnh vực chuyên ngành khác.

7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với các hành vi vi phạm tại các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5 của Điều này và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; trừ trường hợp trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này;

b) Buộc đăng ký đất đai theo quy định đối với trường hợp có đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP;

c) Buộc thực hiện tiếp thủ tục giao đất, thuê đất theo quy định đối với trường hợp sử dụng đất khi chưa thực hiện xong thủ tục giao đất, thuê đất;

d) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này; số lợi bất hợp pháp được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này.

Theo Khoản 1, Điều 12 Luật đất đai 2013 quy định: những hành vi bị nghiêm cấm:

“1. Lấn chiếm, hủy hoại đất đai.”

Bạn có quyền khởi kiện ông C quy định tại Khoản 7, Điều 166 Luật đất đai 2013 về hành vi vi phạm của ông C, bạn có thể nộp đơn khởi kiện ông C với hành vi sau:

-Hành vi của ông C thuê các thanh niên lạ măt đến phá nhiều lần hàng rào của gia đình bạn là có hành vi của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Nếu tội phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 2 và Khoản 3, Điều 15, Nghị định 167/2013/NĐ-CP

-Hành vi phá tường trên mảnh đất của gia đình bạn thì bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai theo Điều 14, Nghị định 91/2019/NĐ-CP.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

4. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp về nhà ở ?

Thưa luật sư, Xin hỏi: Gia đình chồng em có 4 em anh trai, hiện giờ mẹ chồng em bị tai biến nằm một chỗ. Bà có một căn nhà trong diện đền bù, trước khi bị bệnh bà có lập một di chúc nói rằng sau này nếu ai chưa có nhà riêng thì sẽ ở đó, căn nhà không để lại cho riêng ai mà để thờ tổ tiên.
Hiện tại bà bị bệnh, vợ chồng em chưa có nhà và ở đó nhưng hiện giờ ngôi nhà đã bị giải tỏa và cần làm lại. Nhưng anh em chồng không cho chúng em ở lại căn nhà đó khi ngôi nhà làm xong. Vậy trường hợp này phải giải quyết ra sao?
Xin luật sư tư vấn giúp em, Em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp về nhà ở ?

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp nhà ở trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Khoản 1 Điều 649 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng

Tuy nhiên, di chúc bằng miệng được công nhận là hợp pháp khi thỏa mãn các điều kiện được quy định tại khoản 5 Điều 652 BLDS

Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực

Do vậy,di chúc của ông cố bạn để lại nếu đáp ứng đủ các điều kiện trên thì mới được công nhận là hợp pháp.

Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế ( Điều 667 BLDS) và Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội . Như vậy, di chúc của bà bạn chưa có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp của bạn, để tránh tình trạng tranh chấp. Nếu ngôi nhà là tài sản riêng của bà bạn. Bạn có thể khuyên bà bạn làm hợp đồng tặng cho ngôi nhà với điều kiện dùng vào mục đích thờ cúng tổ tiên cho bạn.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn luật dân sự và thừa kế 24/7 : 1900.6162 hoặc Gửi thư tư vấn pháp luật miễn phí qua Email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Tranh chấp quyền sử dụng đất được giải quyết như thế nào ?

Kính gửi luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi một sự việc như sau..vào năm 1991 gia đình tôi đã mua thêm 1 mảnh đất bao gồm nhà ở và đất ruộng cuả nhà ông K là hơn 500m2..và có giấy tờ mua bán viết tay, chữ kí cuả hai bên.
Đến năm 1995 gia đình tôi được cấp bìa đỏ, nhưng phần đất mà gia đình tôi mua thêm lại chưa được xác nhập vào bìa đỏ cùng với phần đất của nhà tôi..gia đình tôi và gia đình bên cạnh là nhà ông Q chung sống hòa thuận, không hề có một chút mâu thuẫn gì về tranh chấp đất đai.Đến năm 2014, thì gia đình tôi nhận được đơn kiện từ gia đình ông Q với nội dung đòi hơn 500m2 đất cuả nhà tôi.lu ́c đó gia đình tôi mới lên UBND xã xin xem bản đồ..thì mới biết mảnh đất nhà tôi mua thêm chưa được xác nhập vào bìa đỏ cuả nhà tôi..tháng 8 vừa qua gia đình tôi nhận được lệnh triệu tập cuả tòa án. Qua tòa án sơ thẩm đã sử theo bản đồ và sử gia đình tôi phải trả hơn 500m2 cho nhà ông Q, gia đình tôi không chấp nhận và đã kháng án lên phúc thẩm.
Vậy kính hỏi luật sư giờ gia đình tôi phải làm gì để chứng minh được mảnh đất đó thuộc quyền sở hữu cuả gia đình tôi ?

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của bạn, việc mua bán đất đai được thực hiện vào năm 1991, thời điểm đó Luật Đất đai cũ vẫn còn hiệu lực. Theo đó thì thì hợp đồng mua bán đất đai giữa bạn và ông Khang tuy là hợp đồng viết tay, mới có chữ ký của các bên mà không có chứng thực nhưng hợp đồng này vẫn sẽ có hiệu lực pháp luật.

Tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quy định như sau:

"Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Để chứng minh được mảnh đất thuộc về bạn, trước hết bạn cần phải chứng minh được việc sử dụng đất ổn định theo quy định tại Điều 21, Nghị định 43/2014/NĐ-CP: Hướng dẫn luật đất đai năm 2013.
Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP có quy định như sau:
"Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định
1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất."
Ngoài ra anh cần phải cung cấp cho Tòa án giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 100 Luật Đất đai 2013.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hỏi đáp về tội chiếm đoat tài sản và hình phạt đối với tội danh này ?