Thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế tại Việt Nam. Trong đó, các khoản thu nhập phát sinh từ tiền bản quyền và nhượng quyền thương mại thường xuyên xuất hiện trong các giao dịch có yếu tố nước ngoài hoặc giữa cá nhân không cư trú với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam. Việc xác định đúng cách tính thuế đối với các khoản thu nhập này không chỉ giúp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật mà còn góp phần hạn chế các rủi ro pháp lý trong quá trình thanh toán và kê khai thuế. Do đó, việc tìm hiểu rõ cách tính thuế thu nhập cá nhân từ thu nhập tiền bản quyền và nhượng quyền thương mại đối với cá nhân không cư trú là cần thiết để các bên liên quan có thể áp dụng đúng quy định và thực hiện nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, minh bạch.

1. Thuế thu nhập cá nhân từ tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại với cá nhân không cư trú là gì?

Thuế thu nhập cá nhân từ tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại đối với cá nhân không cư trú là khoản thuế mà Nhà nước thu đối với thu nhập phát sinh từ việc cá nhân nước ngoài hoặc cá nhân không sinh sống lâu dài tại Việt Nam chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ hoặc quyền khai thác mô hình kinh doanh cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam. Các khoản thu nhập này thường phát sinh khi cá nhân cho phép sử dụng các tài sản trí tuệ như tác phẩm, phần mềm, sáng chế, nhãn hiệu hoặc bí quyết kỹ thuật. Thông qua việc chuyển giao quyền sử dụng đó, cá nhân nhận được tiền bản quyền hoặc phí nhượng quyền từ bên sử dụng tại Việt Nam. 

Thuế thu nhập cá nhân đối với tiền bản quyền và nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú cũng phản ánh nguyên tắc đánh thuế dựa trên nguồn thu nhập phát sinh. Điều này có nghĩa là dù cá nhân không sinh sống hoặc làm việc thường xuyên tại Việt Nam, nhưng nếu họ nhận được lợi ích kinh tế từ việc khai thác tài sản trí tuệ hoặc hệ thống kinh doanh tại Việt Nam thì vẫn phải chịu thuế. Khoản thuế này thường được xác định dựa trên giá trị thu nhập mà cá nhân nhận được từ hợp đồng chuyển giao hoặc nhượng quyền. Trong thực tế, nghĩa vụ thuế thường được thực hiện thông qua việc khấu trừ ngay tại nguồn khi tổ chức hoặc cá nhân tại Việt Nam thanh toán tiền cho bên chuyển giao. Cách thức này giúp việc thu thuế trở nên thuận tiện và hạn chế tình trạng thất thu thuế trong các giao dịch có yếu tố nước ngoài.

2. Cách tính thuế thu nhập cá nhân từ thu nhập tiền bản quyền với cá nhân không cư trú

Theo khoản 1 Điều 25 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025, thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền bản quyền của cá nhân không cư trú được xác định dựa trên phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng theo từng hợp đồng chuyển giao hoặc chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ tại Việt Nam. Như vậy, pháp luật không tính thuế trên toàn bộ khoản tiền bản quyền mà chỉ tính trên phần thu nhập vượt mức quy định. Việc xác định theo từng hợp đồng giúp cơ quan thuế quản lý rõ ràng nguồn thu nhập phát sinh. Đồng thời, quy định này cũng góp phần bảo đảm công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Đây là căn cứ quan trọng để xác định nghĩa vụ thuế đối với cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền bản quyền.

Về phương thức xác định số thuế phải nộp, pháp luật quy định áp dụng thuế suất toàn phần là 5% đối với phần thu nhập tính thuế. Theo đó, số thuế thu nhập cá nhân được tính theo công thức:

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = (Thu nhập từ tiền bản quyền theo hợp đồng – 20 triệu đồng) × 5%.

Trong công thức này, thu nhập theo hợp đồng là tổng số tiền bản quyền mà cá nhân không cư trú nhận được. Phần 20 triệu đồng được xem là mức thu nhập không tính thuế. Phần thu nhập còn lại sau khi trừ ngưỡng này sẽ được áp dụng thuế suất để xác định số thuế phải nộp.

Ví dụ, một cá nhân không cư trú ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho một doanh nghiệp tại Việt Nam với số tiền bản quyền là 60 triệu đồng. Theo quy định, phần thu nhập được miễn tính thuế là 20 triệu đồng. Do đó, thu nhập tính thuế sẽ là 60 triệu đồng trừ đi 20 triệu đồng, tương đương 40 triệu đồng. Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp được xác định bằng 40 triệu đồng nhân với thuế suất 5%. Như vậy, số thuế mà cá nhân không cư trú phải nộp đối với khoản thu nhập tiền bản quyền này là 2 triệu đồng.

 

3. Cách tính thuế thu nhập cá nhân từ thu nhập nhượng quyền thương mại với cá nhân không cư trú

Theo khoản 2 Điều 25 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú được xác định dựa trên phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng theo từng hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Điều này có nghĩa là chỉ phần thu nhập vượt mức 20 triệu đồng của mỗi hợp đồng mới được dùng làm căn cứ tính thuế. Quy định này nhằm bảo đảm việc đánh thuế phù hợp với giá trị thực tế của giao dịch nhượng quyền. Đồng thời, việc xác định theo từng hợp đồng giúp cơ quan thuế dễ dàng kiểm soát nguồn thu nhập phát sinh. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định nghĩa vụ thuế của cá nhân không cư trú.

Về phương pháp tính thuế, pháp luật quy định áp dụng thuế suất toàn phần là 5% đối với phần thu nhập tính thuế từ hoạt động nhượng quyền thương mại. Theo đó, số thuế thu nhập cá nhân phải nộp được xác định theo công thức:

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = (Thu nhập từ nhượng quyền thương mại theo hợp đồng – 20 triệu đồng) × 5%.

Trong công thức này, thu nhập theo hợp đồng là toàn bộ khoản tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ hoạt động nhượng quyền thương mại. Phần 20 triệu đồng được xem là mức không phải tính thuế. Phần thu nhập còn lại sau khi trừ ngưỡng này sẽ được áp dụng thuế suất 5% để xác định số thuế phải nộp.

Ví dụ, một cá nhân không cư trú ký hợp đồng nhượng quyền thương mại cho một doanh nghiệp tại Việt Nam với giá trị hợp đồng là 80 triệu đồng. Theo quy định, 20 triệu đồng đầu tiên không phải tính thuế. Như vậy, thu nhập tính thuế sẽ là 80 triệu đồng trừ 20 triệu đồng, còn 60 triệu đồng. Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp được xác định bằng 60 triệu đồng nhân với thuế suất 5%. Do đó, số thuế mà cá nhân không cư trú phải nộp đối với khoản thu nhập từ nhượng quyền thương mại này là 3 triệu đồng.

 

4. Biểu mức tiền bản quyền do cơ quan nào phê duyệt?

Theo Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là người có thẩm quyền phê duyệt biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền trước khi được áp dụng trong thực tế. Việc phê duyệt này được thực hiện trên cơ sở hồ sơ do tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và quyền liên quan gửi đến để đề nghị xem xét. Quy định này nhằm bảo đảm rằng biểu mức tiền bản quyền được ban hành phù hợp với quy định pháp luật và bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và bên sử dụng tác phẩm. Đồng thời, cơ chế phê duyệt của cơ quan quản lý nhà nước cũng góp phần kiểm soát việc xây dựng và áp dụng biểu mức tiền bản quyền trong thực tiễn. Nhờ đó, hoạt động thu và thanh toán tiền bản quyền được thực hiện một cách minh bạch và thống nhất.

Bên cạnh đó, các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và quyền liên quan có trách nhiệm xây dựng biểu mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán phù hợp với từng hình thức sử dụng tác phẩm hoặc đối tượng quyền liên quan. Việc xây dựng biểu mức này phải dựa trên các nguyên tắc được quy định trong pháp luật về sở hữu trí tuệ, từ đó làm cơ sở cho việc đàm phán và thanh toán tiền bản quyền giữa các bên có liên quan.

Sau khi hoàn thiện biểu mức và phương thức thanh toán, tổ chức đại diện tập thể phải nộp hồ sơ đề nghị phê duyệt trước khi tiến hành áp dụng. Khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, biểu mức tiền bản quyền sẽ trở thành căn cứ quan trọng để xác định nghĩa vụ tài chính khi khai thác hoặc sử dụng các đối tượng được bảo hộ. Điều này góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền trong quá trình khai thác tài sản trí tuệ.

5. Kết luận

Như vậy, có thể thấy rằng việc tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền bản quyền và nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú được pháp luật quy định tương đối rõ ràng với phương pháp tính trực tiếp trên khoản thu nhập chịu thuế. Quy định này giúp cơ quan quản lý thuế dễ dàng xác định nghĩa vụ thuế, đồng thời tạo sự minh bạch trong các giao dịch liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, quyền thương mại hoặc quyền khai thác tài sản trí tuệ. Đối với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam thực hiện chi trả các khoản thu nhập này cho cá nhân không cư trú, việc nắm vững quy định về cách tính và khấu trừ thuế là rất quan trọng để bảo đảm thực hiện đúng nghĩa vụ khấu trừ, kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, việc tuân thủ đầy đủ các quy định về thuế cũng góp phần bảo đảm tính công bằng trong nghĩa vụ tài chính, tăng cường hiệu quả quản lý thuế và tạo môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định trong bối cảnh các hoạt động chuyển giao quyền và nhượng quyền thương mại ngày càng phát triển.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.