Tôi quen 1 cô gái qua mạng xã hội từ năm 2016. Qua thời gian nói chuyện. Thì nảy sinh tình cảm. Nhưng do nhiều lý do nên gặp nhau được.
Từ tháng 8/2018. Người này thường xuyên mượn tiền tôi. Ban đầu thì nói mẹ bênh. Anh trai ăn chơi nợ nần. Nên nhờ tôi giúp. Từ 8/2018 đến nay vẫn không tra tiên mà còn liên tục mượn. Với lý do mượn để làm giấy tờ nhà đất và nhiều lý do khác. Để bán nhà trả tiền co tôi. Số tiền giờ đã lên đến hơn 1.6tỷ . Tôi đòi nhiêu lần nhưng hiện tại, Anh em của cô ta vẫn không chịu trả. Nhưng địa chỉ nhà tôi biết trước đây tôi đến tìm thì người ta nói anh em cô ta đã bán rồi. Hiện tại tôi không biết địa chỉ nhà anh em cô ta ở đâu. Chi biết chắc chắn thành phố anh em cô ta ở. Phường quận thì không chắc chắn lắm. Hiện tại cô ta vẫn liên lạc với tôi liên tục mượn tiền. Nói cho mượn mới trả. Không cho mượn thi không có tiền trả. Tôi nhiều lần yêu cầu cô ta nói địa chỉ nhà nhưng cô ta vẫn dấu để trốn tránh.
Giấy tờ tôi chuyển tiền cho anh em cô ta tôi vẫn giữ. Số tài khoản mang tôi chuyển tới là tài khoản anh trai của cô ta. Nhiều lần tôi chuyển tiền qua internetbanking từ tài khoản của tôi. Theo sự việc như trên. Tôi xin nhờ luật sư tư vấn giúp tôi xem có thể kiện anh em cô ta về tội lợi dụng sự tin tưởng, tình cảm của người khác lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không. Nếu như kiện thì trình tự như thế nào.
Kính mong quý luật sư tư vấn giúp
- tiền chuyển vẫn đang giữ 90% số phiếu chuyển tiền
- chuyển từ tải khoản cá nhân qua internetbanking từ 2018 có thể sao kê
- tin nhắn xác nhận nợ tổng tiền vẫn lưu lại
- số tài khoản người nhận vẫn còn. Địa chỉ đăng ký stk có nhưng k còn ở địa chỉ đó
- hiện tại vẫn còn liên lạc được qua số điện thoại
- 2 người này 1 nam 1 nữ. Theo thông tin được biết là anh em cùng mẹ khác cha
- người nữ là người thường xuyên đứng ra mượn tiền. Nhưng tiền thi được chuyển vào tài khoản được biết là của anh trai
- những địa chỉ theo như đăng ký thử ATM và theo tim hiểu. Tôi đã đến. Nhưng hiện tại đã chuyển đến nơi khác.
- có biết 1 vài người hàng xóm của anh em cô ta
- Đia chỉ hiện tại k rõ ràng. Và hiện tại tôi không thể tìm được. Chỉ biết thành phố, quận. Phường thì không rõ có chính xác hay không ?
Cảm ơn!
Luật sư tư vấn:
Kính thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:
1. Tư vấn về hành vi lừa đảo
Bản chất việc vay tiền là một giao dịch dân sự, giao dịch dân sự này hoàn toàn không trái quy định của pháp luật nếu tuân thủ các yếu tố sau:
- Các bên tham gia giao dịch (bên vay và cho vay có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự)
- Bên vay và bên cho vay tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Tuy nhiên, qua thông tin của Qúy khách có thể thấy người bạn của quý khách (bạn gái mà Qúy khách nhắc đến trong trường hợp này) đang có dấu hiệu đưa ra các thông tin không đúng sự thật, mục đích để Qúy khách tin tưởng vào những thông tin ấy, từ đó Qúy khách cho người bạn này vay tiền, cụ thể là Qúy khách đã chuyển tiền nhiều lần cho người bạn này. Hành vi của người bạn này có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản..”
Theo quy định này, người bạn của Qúy khách có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi có đủ các yếu tố sau:
Thứ nhất, về mặt khách quan:
Ngay ban đầu nếu người bạn của Qúy khách cố ý đưa ra tất cả những thông tin như: mẹ bạn ấy bị bệnh, anh trai nợ nần hay thông tin vay tiền Qúy khách để làm giấy tờ nhà đất. Ngay ban đầu nếu những thông tin này là sai, nhưng người bạn này đã cố ý cung cấp các thông tin này cho Qúy khách nhằm mục đích làm cho Qúy khách tin vào những thông tin này là những thông tin thật, từ đó chuyển tiền cho người bạn này.
Thứ hai, về lỗi: Người bạn này đã có lỗi cố ý đưa ra các thông tin với mục đích chiếm đoạt tài sản và sau đó chiếm đoạt luôn tài sản của Qúy khách.
Nếu có những dấu hiệu trên, người bạn của Qúy khách có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 4 Điều 174 với khung hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."
Để xác định rõ và bảo vệ tối đa lợi ích của Qúy khách. Qúy khách có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an để điều tra làm rõ sự việc.
- Nơi tố cáo: Cơ quan công an cấp quận/huyện nơi xảy ra hành vi phạm tội. Trường hợp này Qúy khách có thể tố cáo cơ quan công an nơi Qúy khách đang cư trú, vì Qúy khách và bạn giao dịch chủ yếu qua điện thoại.
- Hình thức tố cáo: Qúy khách có thể làm đơn tố cáo hoặc đến trực tiếp cơ quan công an trình báo bằng miệng. Việc trình báo cần đảm bảo tính trung thực, ngoài ra Qúy khách cần cung cấp thêm các văn bản sau để cơ quan công an đẩy nhanh qua trình điều tra vụ việc:
+ Các tin nhắn mà Qúy khách đã trao đổi với người bạn này;
+ Phiếu chuyển tiền;
+ Các bản sao kê ngân hàng, chứng minh cho việc chuyển tiền
+ Nếu địa chỉ của người bạn này không rõ ràng, Qúy khách có thể cung cấp tất cả những thông tin quan đến nguời bạn này để cơ quan công an xác minh làm rõ.
Khi cơ quan công an tiếp nhận tố giác về tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận phải thông báo bằng văn bản về kết quả tiếp nhận cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết.
2. Phân tích về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đây là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối, là tội phạm có cấu thành vật chất. Tội danh này được quy định cụ thể tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.
"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
3. Các dấu hiệu của tội phạm
1. Chủ thể
- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 174 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 174 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.
2. Khách thể
Quan hệ sở hữu
Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu them trách nhiệm hình sự về tội khác.
3. Mặt khách quan của tội phạm
- Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng.
Lưu ý: Gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)
Ngoại lệ: Tài sản từ 2 triệu đồng trở lên, nếu có giá trị rất lớn như ô tô, xe máy, máy tính… thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn bị coi là phạm tội
4. Mặt chủ quan của tội phạm
- Lỗi cố ý
- Mục đích: chiếm đoạt tài sản; thực hiện được thủ đoạn gian dối (mong muốn người khác tin mình)
4. Hình phạt chính
Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:
+) Có tổ chức;
+) Có tính chất chuyên nghiệp;
+) Tái phạm nguy hiểm;
+) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
+) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
+) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
+) Gây hậu quả nghiêm trọng.
- Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:
+) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
+) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
- Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp:
+) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
+) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Hình phạt bổ sung
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về “Tư vấn hành vi lừa đảo”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
Trân trọng cảm ơn!
Bộ phận tư vấn Pháp luật - Công ty Luật TNHH Minh Khuê