Nhận thấy doanh nghiêp tư nhân này đang có ý định chiếm đoạt tiền bên em đã góp. Anh/chị giúp em phải làm sao nhé. Bên em có kiện được ra tòa với biên bản này không?.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T.K.P

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật doanh nghiệp của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Luật hình sự 1999 sử đổi bổ sung 2009 

- Luật doanh nghiệp 2014 

>> Xem thêm:  Biển thủ là gì ? Khái niệm về biển thủ ?

- Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung 2011. 

Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định về Chứng minh và chứng cứ

2. Nội dung phân tích: 

+ Gia đình bạn chung với một hộ nữa mua lại cây xăng gần nhà, tuy nhiên bạn góp vốn, do quen biết bạn và bên kia chỉ có giao tiền và lập biên bản bằng giấy viết tay.  Hiện nay chủ trạm xăng là doang nghiệp tư nhân và không thay đổi giấy phép kinh doanh đó. Luật doanh nghiệp 2014 có quy định về doanh nghiệp tư nhân:

"Điều 183. Doanh nghiệp tư nhân

1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp."

- Bạn đã liên hệ với chủ trạm xăng nhưng họ có hành vi cố tình lẩn tránh và có ý định chiếm đoạt tiền bên bạn góp. Hành vi của chủ trạm xăng có cơ sở để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, căn cứ bộ luật hình sự quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm."

1. Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
2. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
3. Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.
- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

>> Xem thêm:  Chiếm đoạt tài sản là gì ? Khái niệm về chiếm đoạt tài sản

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. 

- Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

4. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

- Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.

+  Theo luật hình sự tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản được xác định như sau:

"Điều 140 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn  triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

-> Do đó bạn có thể tiến hành gửi đơn ra cơ quan công an cấp xã, phường, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra hành vi này của chủ trạm xăng và khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên bạn phải cung cấp thêm chứng cứ chứng minh cho việc đưa đơn khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp.

- Hiện tại biên bản bạn giữ được có nội dung như thế nào, nội dung: số tiền góp vào, nội dung góp tiền vào, mục đích đưa tiền. Bạn có thể lưu lại những cuộc gọi, tin nhắn trò chuyện giữa hai bên để chứng minh cho việc có sự kiện giao tiền, có sự thỏa thuận giữa 2 bên vê việc góp vốn chung...

Điều 82 bộ luật tố tụng dân sửa đổi 2011 quy định về nguồn chứng cứ bao gồm:
 

"1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
 
2. Các vật chứng;
 
3. Lời khai của đương sự;
 
4. Lời khai của người làm chứng;
 
5. Kết luận giám định;
 
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
 
7. Tập quán;
 
8. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
 
9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”
 
Các nguồn chứng cứ được nêu trên có giá trị như nhau. Bên cạnh đó, như bạn tham khảo thì tại Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định về Chứng minh và chứng cứ thì “để được coi là chứng cứ quy định tại Điều 81 của BLTTDS, thì việc xác định chứng cứ từ từng loại nguồn chứng cứ cụ thể như sau: b) Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh,… Nếu đương sự không xuất trình các văn bản nêu trên, thì tài liệu nghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp không được coi là chứng cứ.”
 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về hình sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục tố cáo và khởi kiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản