Tại thời điểm đó có một khách hàng người nước ngoài vì bức xúc trước hành vi hung hăng của đối tượng nên đã cùng công nhân của tôi đẩy người này ra ngoài. Trong lúc đó có xảy ra xô đẩy để lại vết bầm đỏ trên cổ của đối tượng này.
Sau đó người này đã gọi công an đến và viết đơn gửi cơ quan công an kiện người nước ngoài về tội cố ý gây thương tích. Sau khi công an đến lấy lời khai và lập biên bản tại công ty tôi thì do có yếu tố nước ngoài nên công an phường đã gửi hồ sơ thụ lý vụ án lên công an tỉnh để thụ lý và giải quyết. Sau khi lập biên bản thì người viết đơn cũng yêu cầu cơ quan công an đi giám định . Kết quả dưới 11%. Khi được mời đến làm việc tại tại cơ quan công an tỉnh. Người lấy lời khai sau khi tôi báo cáo sự việc xong cũng có nói nhờ tôi liên hệ với người nước ngoài để mời lên trụ sở công an để giải quyết. Nhưng người nước ngoài này sau sự việc đã đi ra khỏi công ty tôi do đó tôi không biết người này ở đâu làm gì sau đó và cũng không liên lạc được.
Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn trong trường hợp này thì cơ quan công an sẽ xử lý sự việc này như thế nào. Công ty tôi có chịu trách nhiệm gì trong sự việc này hay không? Người nước ngoài không biết và không đến trụ sở công an để lấy lời khai. Cơ quan công an cũng không biết và không liên hệ được. Vậy người nước ngoài này có bị xử lý hay khởi tố trong trường hợp này hay không?
Xin luật sư tư vấn và xin trân trọng cảm ơn luật sư.
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.
>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi :1900.6162
Trả lời :
Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Nội dung tư vấn
1. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
- Điều 587. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
"Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau."
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 584 có quy định:
"2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác."
- Điều 597. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
"Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật."
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
a. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.
b. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
3. Quy định trong bộ luật hình sự về hành vi cố ý gây thương tích:
Tại Khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 quy định về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác như sau:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;
b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;
h) Có tổ chức;
i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;
m) Có tính chất côn đồ;
n) Tái phạm nguy hiểm;
o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Dựa theo quy định ở trên và dữ liệu bạn cung cấp thì người kia bị thiệt hại dưới 11% chưa bị cấu thành tội hình sự nhưng nếu bên công an điều tra ra là phạm tội có tổ chức thì theo quy định trên nhân viên bên bạn và người nước ngoài kia có thể bị khởi tố vì tội này.
4. Xử lý trong trường hợp có yếu tố nước ngoài như thế nào?
Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó. Trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế, thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”.
Vì vậy, trong trường hợp người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và không thuộc trường hợp miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo quy định nêu trên, căn cứ vào các cấu thành tội phạm người nước ngoài thực hiện, họ phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật giống như công dân Việt Nam phạm tội.
Trong các hình phạt áp dụng cho người phạm tội là người nước ngoài, trục xuất là hình phạt đặc thù nhất. Đối với hình phạt này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 54/2001/NĐ-CP ngày 23-8-2001, là văn bản được áp dụng chủ yếu hiện nay trong việc hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất.
>> Như vậy, hành vi cố ý gây thương tích tùy theo mức độ, tính chất cũng như hậu quả sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc hình sự hoặc xử phạt hành chính thỏa đáng. Trong trường hợp này thì cơ quan công an sẽ xử lý sự việc này thông qua việc tiến hành điều tra, xác minh. Công ty bạn sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hai do người của pháp nhân gây ra căn cứ vào điều 618 của bộ luật dân sự năm 2005, còn người nước ngoài không biết và không đến trụ sở công an để lấy lời khai. Cơ quan công an cũng không biết và không liên hệ được tùy theo mức độ thiệt hai sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự, hành chính, hoặc dân sự.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê