1. Chat với nội dung nhạy cảm, khiêu gợi trên facebook có phạm luật ?

Thưa luật sư, Trong khi lên facebook em có gặp và chat với một cô gái khác (cô ấy nói năm nay 21 tuổi và em xem trong hồ sơ facebook của cô ấy cũng có ghi như vậy), ban đầu chỉ là trò chuyện bình thường nhưng sau đó chúng em đã chat sex với nhau. Em có gửi cho cô ấy 2 tấm ảnh chụp bộ phận nhạy cảm của em và cô ấy cũng có gửi lại. Chúng em chat với nhau khoảng vài ngày thì em cảm thấy sợ nên đã xóa nick facebook, hiện em không còn liên lạc với cô ấy nữa.

Em có thắc mắc là :

1. Hành vi chat s.e.x, gửi ảnh nhạy cảm của em cho cô gái kia có bị coi là phạm vào tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy không ạ ?

2. Nếu cô gái đó dưới 16 tuổi (thực sự em cũng không thể biết được) mà em không biết nhưng vẫn chat gợi dục với cô ấy, thì em có bị khép tội dâm ô trẻ em không ạ ?

Hiện em đang rất hoang mang lo sợ những đoạn chat trước kia của em với cô gái đó sẽ trở thành chứng cớ buộc tội em, em mong được luật sư giải đáp.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: P.T. Dương

Như bạn trình bày thì bạn và bạn gái chat với nhau qua facebook và gửi cho nhau những hình ảnh nhạy cảm.

1.1. Hành vi của bạn có cấu thành tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ hay không?

Điều 326 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017quy định:

Điều 326. Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy

1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi truỵ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 01 gigabyte (GB) đến dưới 05 gigabyte (GB);

b) Sách in, báo in có số lượng từ 50 đơn vị đến 100 đơn vị;

c) Ảnh bản giấy có số lượng từ 100 ảnh đến 200 ảnh;

d) Phổ biến cho 10 người đến 20 người;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 05 gigabyte (GB) đến dưới 10 gigabyte (GB);

c) Sách in, báo in có số lượng từ 51 đơn vị đến 100 đơn vị;

d) Ảnh bản giấy có số lượng từ 201 ảnh đến 500 ảnh;

đ) Phổ biến cho 21 người đến 100 người;

e) Đối với người dưới 18 tuổi;

g) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dữ liệu được số hóa có dung lượng 10 gigabyte (GB) trở lên;

b) Sách in, báo in có số lượng 101 đơn vị trở lên;

c) Ảnh bản giấy có số lượng 501 ảnh trở lên;

d) Phổ biến cho 101 người trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, hành vi của bạn là hành vi làm ra văn hóa phẩm đồi trụy dưới dạng ảnh. Tuy nhiên, hành vi của bạn không nhằm phổ biến cho nhiều người (vì chỉ gửi cho một mình bạn gái), không có số lượng lớn, không có tính chất và mục đích nhằm truyền bá những văn hóa phẩm đó nên hành vi của bạn không cấu thành tội phạm này (không thỏa mãn dấu hiệu mục đích của tội phạm). Do đó bạn không phạm tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ theo Điều 326 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1.2. Hành vi của bạn có phạm tội dâm ô trẻ em hay không?

Căn cứ Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:

Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, bạn lo ngai cô ấy dưới 16 tuổi thì bạn có phạm tội dâm ô với trẻ em hay không. Tuy nhiên, hành vi dâm ô trẻ em là hành vi của người phạm tội, như sờ, bóp, chạm ... vào những bộ phận sinh dục của trẻ em, hoặc buộc trẻ em phải có hành vi như sờ, bóp, chạm ... vào những bộ phận sinh dục của người đó hoặc của người khác, nhưng không giao cấu với trẻ em. Như vậy, bạn chỉ gửi ảnh nhạy cảm và nói chuyện kích dục với bạn gái, mà không có hành vi trực tiếp sờ, bóp, chạm... và bộ phận sinh dục của nhau nên hành vi của bạn không thỏa mãn cấu thành tội phạm này. Do đó, bạn không phạm tội dâm ô trẻ em theo Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017

>> Xem thêm:  Đe dọa tung ảnh nóng lên mạng xã hội theo pháp luật thì bị xử lý như thế nào ?

2. Sắp cưới bị người yêu cũ khủng bố trên facebook xử lý thế nào ?

Kính chào luật sư Minh Khuê, Cháu có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Cháu năm nay 24 tuổi, 16 ngày nữa là cháu kết hôn, nhưng một điều không may mắn cho cháu là, người yêu cũ nói xấu cháu và nhắn tin lên mạng xã hội với chồng tương lai của cháu và bạn bè của chồng cháu việc cụ thể như sau:
Lúc đầu có tên facebook kết bạn với cháu và chồng cháu, bạn bè của chồng cháu, rồi fb đấy nhắn tin cho cháu với nội dung là. Cho anh ngủ với Em 1 lần trước khi lấy chồng được không? Nếu không sẽ tung những hình ảnh tế nhị lên facebook cho tất cả mọi người xem và sẽ gửi về cho 2 bên gia đình biết, rồi còn nhắn tin linh tinh cho bạn bè chồng cháu. Rồi nói với bạn bè chồng cháu là nếu ngủ với cháu sẽ cho 5 triệu...
Cháu xin luật sư, cháu nên làm gì bây giờ ạ ? cháu hoang mang và lo sợ lắm: Sợ gia đình nhà chồng anh em nhà chồng xem cháu không ra gì?
Mong luật sư giúp đỡ!
Người hỏi: NH

Trả lời:

Căn cứ Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

Điểm g khoản 3 điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử quy định:

"Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;" sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 VNĐ.

Trong trường hợp này, bạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết vấn đề cho bạn; tùy từng tình tiết mà người yêu cũ của bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội quy định tại điều 155 hoặc điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

3. Người yêu cũ doạ tung ảnh "nóng" lên facebook phải làm thế nào ?

Em chào Luật sư ạ! Em có một sự việc như thế này mong Luật sư tư vấn giúp em ạ. Em và người yêu của em quen nhau và yêu nhau được 2 năm, khi đó chúng em là sinh viên. Chúng em yêu nhau và đã đi quá "giới hạn" và trong lúc "mặn nồng" người yêu em có lén quay lại một số video mà em không hề hay biết.
Bây giờ chúng em đã ra trường và mỗi người một nơi, lúc đầu chúng em cũng xác định cưới nhưng sau khi đi xem số và tham khảo ý kiến của gia đình thì cả hai bên đều không đồng ý nên em quyết định chia tay. Lúc đầu anh ấy cũng đồng ý nhưng dạo này anh ấy lại đòi quay lại, thật sự em đã hết tình cảm, kể cả quay lại cũng không có kết quả gì nên em không đồng ý. Bị từ trối quay lại anh trở nên một người khác, anh ấy chửi mắng, xúc phạm em và còn đe doạ sẽ tung những video nóng ngày trước quay tung lên facebook của em. Em rất hoang mang và lo sợ vì như thế em sẽ không còn mặt mũi nào nữa và tương lai của em sẽ trở thành một màu đen tối. Bây giờ em không biết phải làm thế nào ?
Mong luật sư giúp đỡ em ạ. Em phải làm gì để ngăn chặn hành vi đó lại? Hành vi đó có vi phạm pháp luật không?
Em rất mong luật sư trả lời em sớm ạ. Em cảm ơn Luật sư rất nhiều ạ.

Người yêu cũ doạ tung ảnh

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự xử lý dọa tung ảnh nóng, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Trường hợp của bạn chúng tôi nhận thấy nếu hành vi bạn trai cũ của bạn tung những video đó lên facebook xảy ra sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bạn và ảnh hưởng đến tương lai của bạn. Trong Hiến pháp 2013 có quy định về vấn đề này như sau:

Tại khoản 1, điều 20, Hiến pháp 2013 có quy định:

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Hiến pháp là văn bản pháp luật cao nhất, trong hiến pháp có quy định danh dự, nhân phẩm của tất cả mọi người được pháp luật bảo vệ và bất khả xâm phạm.

Và điều 34, Bộ luật dân sự 2015 cũng có quy định quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy tín như sau:

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy tín.

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Như vậy danh dự, nhân phẩm, uy tín của bạn được pháp luật bảo vệ, không ai có quyền xâm phạm, những hành vi xâm phạm đều bị pháp luật xử lý và nghiêm trị theo quy định của pháp luật.

>> Để ngăn chặn và răn đe hành vi này của bạn trai cũ của bạn, bạn nên viết đơn trình báo lên cơ quan công an địa phương (công an quận/huyện) nơi bạn trai cũ của bạn đang sinh sống để được Công an ngăn chặn và có chế tài xử phạt, răn đe kịp thời.

Tuỳ vào mức độ vi phạm của người yêu cũ của bạn sẽ bị công an triệu tập lên làm việc và xử lý như sau:

Thứ nhất: Nếu hành vi của bạn trai của bạn nhẹ, chỉ dừng lại ở mức đe doạ, không có ý định thực hiện, chưa đủ yếu tố cấu thành hình sự thì sẽ bị xử phạt hành chính căn cứ theo Nghị định 167/2013, về xử phạt vi phạm hành chính an ninh an toàn xã hội phòng chữa cháy, phòng, chống, bạo lực gia đình

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng.

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

Thứ hai: Nếu hành vi của bạn trai đó không dừng lại ở mức độ đe doạ mà bạn trai đó thực hiện hành vi tung lên facebook của bạn hoặc đã bị xử phạt hành chính mà vẫn tiếp tục vi phạm, vẫn tiếp tục tung lên facebook thì sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự căn cứ theo điều 155, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác.

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, nếu hành vi tung ảnh nóng của bạn lên facebook xảy ra, bạn trai cũ của bạn sẽ bị xử phạt hành chính hoặc nặng hơn sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự. Để ngăn chặn hành vi đó xảy ra bạn hoàn toàn có quyền viết đơn trình báo lên cơ quan công an có thẩm quyền để công an can thiệp kịp thời, tiến hành xử phạt, răn đe, ngăn chặn hành vi đó của bạn trai trên.

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?

4. Có thể xử phạt với hành vi giả mạo facebook không ?

Thưa luật sư, cháu xin chào luật sư và có vấn đề sau đây xin phép luật sư tư vấn cho cháu: Cháu tham gia mạng xã hội đã lâu, và facebook không hề có bất cứ hình ảnh hay bài đăng nào vô văn hóa hay bất lịch sự.
Nhưng gần đây, có người đã mạo danh chau, lập facebook ảo để đăng những bài đăng xúc phạm bạn bè cháu trên trang cộng đồng kí túc xá của sinh viên khối đại học quốc gia. Sau khi phòng cháu biết thì đã đăng bài đính chính, tuy nhiên nick facebook này còn lập thêm 2 nick facebook ảo khác, công kích chúng cháu. Thậm chí, nay các facebook ảo ấy còn lấy hình của cháu và bạn cháu làm hình ảnh đại diện, đi rao bán những thứ như bao cao su ở trang kí túc xá, thậm chí còn bình luận với nội dung khiêu dâm rằng chúng cháu đang hoạt động mại dâm nhằm bôi nhọ danh dự chúng cháu.
Vậy xin hỏi luật sư, chúng cháu có thể nhờ pháp luật can thiệp không, và liệu phía công an có chấp nhận điều tra cho chúng cháu không?
Cháu xin cảm ơn luật sư và mong luật sư có thể giúp cháu.

Có thể xử phạt với hành vi giả mạo facebook không?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Hành vi giả mạo facebook của người khác để xuyên tạc, xúc phạm danh dự, uy tín của công dân là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Vấn đề này được điều chỉnh bởi Luật Công nghệ thông tin năm 2006 số 67/2006/QH11Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017

“Điều 12. Các hành vi bị nghiêm cấm

2. Cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm mục đích sau đây:

d) Xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân;…”

Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về công nghệ thông tin thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Như vậy, đối tượng có hành vi lập facebook giả tùy theo múc độ mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải bồi thường nếu gây thiệt hại.

Trong tình huống mà bạn đưa ra chưa nêu rõ được hành vi của đối tượng trên nên chúng tôi chia ra các trường hợp xử phạt như sau:

a) Xử phạt vi phạm hành chính:

Hành vi giả mạo facebook, giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng (điểm a khoản 3 Điều 64 Nghị định 15/2020/NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử

Trong trường hợp người giả mạo facebook để xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của bạn, người giả mạo có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội làm nhục người khác” theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Về mặt pháp lý, bạn có thể nhờ các cơ quan có thẩm quyền để can thiệp, đơn giản nhất là phản ánh hành vi vi phạm đến cơ quan công an để điều tra, xử lý người vi phạm.

>> Xem thêm:  Mức phạt về tội làm nhục người khác như thế nào ? Phát tán video nhạy cảm bị phạt thế nào ?

5. Bị bôi nhọ trên facebook thì phải làm thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em năm nay 18 tuổi, lúc trước có xích mích với bạn bè nhưng đã giải quyết ổn thoả ,rồi bây giờ bạn ấy lại nhắn tin cho người quen em hỏi này nọ rồi đăng status trên facebook để công kích em, đăng bài cố ý nói xấu nói những điều sai sự thật về em và nêu rõ tên ở phần bình luận, em có quyền kiện bạn đó không ạ ?
Cảm ơn!
- N.H.N

Luật sư trả lời:

Theo thông tin mà bạn đã cung cấp, bạn đang bị người khác nói xấu và đặt điều bôi nhọ danh dự của bạn trên mạng xã hội, bạn đang băn khoăn không biết giải quyết như thế nào và người đó có phải chịu trách nhiệm hình sự không. Với những câu hỏi đó, chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi nói xấu người khác trên mạng xã hội có thể xử lý vi phạm hành chính, chịu trách nhiệm dân sự, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngày nay, với sự phát triển của thông tin truyền thông ngày càng nhanh chóng, thì Facebook nói riêng hay các trang mạng xã hội nói chung đã không còn đơn thuần là không gian để mỗi người chia sẻ sở thích, hoạt động riêng tư, quan điểm sống. Bên cạnh những mặt tích cực, Facebook hiện đã và đang trở thành "công cụ" đắc lực để một số người lợi dụng nhằm xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ uy tín của người khác...

Các cơ quan quản lý cũng đang tìm cách ngăn chặn, xử lý. Vậy dưới góc độ pháp lý, hình thức xử lý các hành vi trên như thế nào ?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi nói xấu người khác trên mạng xã hội có thể xử lý vi phạm hành chính, chịu trách nhiệm dân sự, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về xử lý hành chính: Theo quy định tại Nghị định 15/2020/NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử thì người có hành vi Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;" sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 VNĐ.

Về trách nhiệm dân sự: Theo quy định tại Điều 34, Bộ luật Dân sự 2015 thì người bị xâm phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm bởi hành vi bêu rếu, nói xấu trên Facebook có quyền yêu cầu yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Căn cứ Điều 584 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Về xử lý hình sự: Theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017quy định về tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trong đó, hành vi bịa đặt được hiểu là việc tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có thật đối với người khác để bôi nhọ, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Việc bịa đặt này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: Sao chép làm nhiều bản gửi đi cho nhiều người qua message (tin nhắn), kể lại cho người khác nghe, đăng status (trạng thái), comment (lời bình) trên Facebook...

Như vậy, bạn có thể gửi đơn tố cáo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền như cơ quan cảnh sát điều tra, viện kiểm sát nhân dân các cấp, ủy ban nhân dân các cấp để đề nghị xử lý các người đó theo quy định của pháp luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?