1. Dùng thủ đoạn tặng quà để lừa đảo

Kính chào công ty Luật Minh Khuê,thưa luật sư hiện nay tôi đang có một vấn đề thắc mắc mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi bị một người lừa đảo mua một thùng bánh kẹo Nhật Bản giá 5 triệu đồng, khi tôi nhận được hàng thì hàng này toàn là kẹo đá việt nam tự gia công tự làm, không phải hàng từ thái lan. Tôi cần thu thập chứng cứ gì để làm đơn báo công an ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

1. Yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì ?

Căn cứ quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 20017Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhằm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu sau:
Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra các thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa rra các thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói hay chữ viết (viết thư), bằng hành động… (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn như dùng thủ đoạn cân, đong, do đếm gian dối chỉ nhằm ăn gian, bớt hàng hóa của khách hành hoặc để bán hành giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định kể từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khu dùng thủ đoạn gian dối để làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phản nhận.
Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hàng vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), tùy từng trường hợp cụ thể mà người mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.
Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà bị truy cứu về những tội danh tương ứng đó.
Dấu hiệu khác, có một trong các dấu hiệu sau đây: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên (Ví dụ; Gia đình bị hại chỉ có 01 chiếc xe gắn máy duy nhất và dùng để hành nghề xe ôm tạo thu nhập cho gia đình);Gây ảnh hướng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.Tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần với người bị hại.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Mặt khách quan: Người phạm tội nêu trên thực hiện hành vi này với lỗi cố ý.
Cần lưu ý: Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt với dấu hiệu của tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp cách thức thực hiện tội phạm giống nhau về hình thức nhưng trong trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.
Ý thức chiếm đoạt phải có trước khi có thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng. (Như phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).
Chủ thể: Chủ thể của lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

2. Hậu quả pháp lý của tội lừa đảo Cđts

Thưa luật sư, xin hỏi: Mình có vay bên ngân hàng việt nam thịnh vượng số tiền là 21 triệu trả trong vòng 2 năm nhưng sau khi trả được vài tháng mình không còn khả năng trả nữa. Mình có vấn đề mong các luật sư giải đáp: Mình có vay bên ngân hàng việt nam thịnh vượng số tiền là 21 triệu trả trong vòng 2 năm nhưng sau khi trả được vài tháng mình không còn khả năng trả nữa 9 tháng nay do không có khả năng trả ngân hàng kiện mình ra tòa với tội danh lừa gạt chiếm đoạt tài sản.
Nếu giải quyết ngoài tòa là gần 29 triệu nhưng nếu không thì tòa sẽ xử là gần 50 triệu . cho hỏi nếu tòa xử mình có bị gì không ? mình còn đi học mình muốn thương lượng trả mỗi tháng dưới 1 triệu đồng không mình có liên lạc với bên ngân hàng nhưng họ không chấp nhận . giờ mình phải làm sao ?
Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Trong trường hợp này, do bạn chưa cung cấp đầy đủ thông tin, nếu trường hợp bạn vay tiền của ngân hàng nhưng không có ý định lừa dối từ trước mà chỉ không trả lãi vay trong vòng 9 tháng gần đây do không có khả năng chi trả (nhưng không phải do dùng số tiền đi vay đầu tư bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng chi trả) thì Tòa án sẽ chưa có đủ dấu hiệu cấu thành bạn vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bạn chỉ vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định Bộ luật dân sự 2015

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo đó, nếu Tòa án xử lý vụ việc này, bạn có nghĩa vụ phải hoàn trả lãi trên nợ gốc trong 9 tháng vừa qua và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

3. TNHS đối với hành vi lừa tình chiếm đoạt tài sản?

Kính chào Luật sư. Tôi Có 1 vấn đề rất mong nhận được sự tư vấn của Luật sư. Cụ thể: Tôi đang định cư và sinh sống tại Đài loan. Sau đó tôi Có quan hệ trên mức tình cảm với 1 anh ở Việt Nam. Và Có 1 con nhỏ ( nhưng không có hôn thú ).
Trong khi tôi mang thai thì anh này có nói với tôi là bán nhà mà bố mẹ tôi để lại cho tôi để mua chỗ khác ở. Tôi nghĩ đã Có con với anh này rồi nên tôi hết sức tin tưởng vào những lời đường mật của hắn ta. Trong quá trình giao bán thì việc mua bán ko được thuận lợi vì tôi đã Có Quốc tịch Đài loan nên quá trình xác minh thân thế và đất đai gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó anh ta đã khuyên tôi nên cho anh ta đứng tên mảnh đất đó để thuận lợi cho việc mua bán. Lúc này tôi đang bụng mang dạ chửa nên tôi đã nghe theo lời anh ta. Sang tên anh ta và đã bán luôn được 1 tỷ 280 triệu. So tiền đó anh ta đã cầm hết vì bảo vay trước để trả nợ....rồi không trả tôi số tiền đó.
Cũng vì con và mối quan hệ này. Anh ta đã dùng con để hành hạ tôi. Suốt ngày hỏi vay tiền... tôi đã cho anh ta vay thêm 20.000 Đô la Mỹ gửi vào tên của anh ta và 150 triệu tiền đưa tận tay 2000 Đô la Mỹ và rất nhiều tiền mặt nữa. Tôi đã đòi anh ta nhiều lân nhưng anh ta toàn bảo không có... Khi anh ta đoán được tôi biết về thủ đoạn lừa đảo của anh ta thì anh ta đã lấy ảnh tắm của tôi Có trong máy của anh ta ra để khủng bố tôi. Dọa nạt tôi. Nhiều lần dọa dẫm cho xa hội đen giết tôi. Tôi đã nhờ người điều tra hộ thì hóa ra anh ta là lừa đảo chuyên nghiệp. Lừa rất nhiều người đàn bà. Lừa hết rồi cho vợ đánh ghen....
Vậy tôi mong Luật sư hướng dẫn giúp đỡ tôi làm sao để đòi lại số tiền mà anh ta đã chiếm đoạt và bắt hắn phải chịu tội trước pháp luật. Đòi lại công bằng cho mẹ con tôi ?
Rất mong sự giúp đỡ của Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để xác định một hành vi có cấu thành tội phạm hay không thì cần phải có sự điều tra, xem xét và kết luận của cơ quan nhà nước. Nếu nhận thấy hành vi của bạn trai bạn có dấu hiệu vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích của bạn thì bạn có thể làm đơn tố cáo theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

"Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Như vậy bạn có thể tố cáo tại cơ quan công an, viện kiểm sát nơi anh này cư trú để tiến hành xem xét giải quyết. Mẫu đơn tố cáo bạn có thẻ tham khảo tại đây.

Về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cũng như thời gian giải quyết quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.

Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.

2. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.

3. Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

4. Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.

5. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.

vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

4. Thủ tục khởi kiện khi bị lừa tiền qua mạng

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về thủ tục khởi kiện với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các vấn đề liên quan.

Trả lời:

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Bộ luật hình sự 2015 có quy định

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn về mức xử phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mới nhất

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tại sao người yêu bạn lừa dối bạn, có phải là họ hết yêu ?