Đồng thời bên B có mượn tiền của mẹ em, số tiền là 50 triệu đồng (không có giấy tờ vay mượn) . Sau đó thì bên B có gửi trả tiền lại cho mẹ em theo đường bưu điện 3 lần (tổng cộng: 49 triệu đồng) . Sau 3 tháng, bên B đã không chuộc lại miếng đất. Vì vậy mẹ em đã thực hiện sang tên miếng đất trên. Và sau đó thì tất cả giấy tờ liên quan đến miếng đất đều đã được sang tên cho mẹ em.Tuy nhiên khi mẹ em đề nghị bên B giao đất thì bên B không đồng ý, và lúc này thì nhà em mới phát hiện ra bên B đã bán miếng đất trên cho người khác bằng giấy tờ viết tay. Bên B đưa đơn khởi kiện mẹ em về việc cho rằng bên B chỉ cầm cố đất thôi, chứ không bán. Và trước đó bên B có ghi âm lại nội dung nói chuyện điện thoại giữa em trai của em và bên B về việc cầm cố miếng đất trên. Đồng thời bên B cung cấp cho tòa án các giấy chuyển tiền qua đường bưu điện (3 giấy, tổng cộng :49 triệu đồng , như ở phía trên), bên B cho rằng đó là số tiền đóng tiền lãi. Hiện tại thì bên B đã đi thẩm định lại giá trị của miếng đất, kết quả thẩm định mà bên B cung cấp là trị giá của miếng đất hiện tại là 2 tỉ đồng. Bên B đồng ý trả số tiền 350 triệu và lãi suất theo ngân hàng cho mẹ em. Nhưng gia đình em không đồng ý và muốn bên B bàn giao lại miếng đất như đã thỏa thuận. Hiện tại bên B đã bán lại miếng đất trên cho người khác bằng giấy tờ viết tay, và người này cũng đã xây nhà trên miếng đất đó.

Xin luật sư tư vấn việc gia đình em lấy lại miếng đất đó có gặp khó khăn gì không?

Và việc bên B khởi kiện mẹ em về việc cầm cố, không phải sang nhượng là có hợp lý không?

Kết quả của tòa án như thế nào thì bên mẹ em không phải đóng án phí?

Nếu có thì mức án phí + phí giám định giá trị đất được tính như thế nào? Bên nào phải thanh toán? Mong sớm nhận được phản hồi của luật sư. 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đaicủa công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi   1900.6162

Trả lời

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Cầm đồ và cầm cố các vấn đề pháp lý liên quan ? Mạo danh cắm xe người khác có phạm tội ?

 

1. Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai 2013

Bộ Luật dân sự 2005

Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 của Quốc hội

Pháp lệnh 02/2012/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng

2. Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn không cung cấp rõ là hợp đồng chuyển nhượng miếng đất có được công chứng chứng thực hay không nên chúng tôi có thể tư vấn như sau:

- Thứ nhất, về việc công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất
Tại Khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật."

Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này"

Theo các quy định trên, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua bán đất đai) thì bắt buộc phải công chứng tại cơ quan có thẩm quyền.
Nếu như hợp đồng của bạn đã được công chứng chứng thực thì hợp đồng này hoàn toàn có giá trị pháp lý và bên B không chuộc lại trong vòng 3 tháng thì mẹ bạn có thể làm thủ tục sang tên. Trong trường hợp này, mẹ bạn là người đứng ra ký tên trên hợp đồng thì việc bên B có phần ghi âm của em trai bạn và bên B về việc cầm cố cũng có thể không có giá trị bởi vì mẹ bạn mới là người tham gia vào hợp đồng chuyển nhượng này. Nếu hợp đồng này không công chứng chứng thực, hợp đồng mua bán đất đai được xác lập trước thời điểm Luật Đất đai 2003 có hiệu lực (01/7/2004) thì hợp đồng mua bán này không bắt buộc phải công chứng, hợp đồng mua bán của gia đình bạn được xác lập sau ngày 01/7/2004 mà không có công chứng hoặc chứng thực thì hợp đồng mua bán này không có hiệu lực pháp luật.

- Thứ hai, xử lý hợp đồng dân sự vô hiệu

Tại Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Như vậy,nếu hợp đồng bị tuyên vô hiệu thì gia đình bạn sẽ phải hoàn trả lại đất cho bên B và bên B sẽ trả lại gia đình bạn 350 triệu đồng. Tuyd thuộc vào hợp đồng chuyển nhượng đất trước đây có giá trị pháp lý hay tuyên vô hiệu mà việc bên  B khởi kiện bạn là hợp lý hay không? Việc bạn cho vay không có giấy tòe nhưng có người làm chứng để chứng minh số tiền bên B chuyển cho bạn không phải là cầm cố mà chỉ là khoản vay thì bên B sdex không đủ chứng cứ để khởi kiện gia đình bạn.

Về việc, trả án phí và tiền giám định , theo quy định tại Điều 27 của Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 của Quốc hội thì:

>> Xem thêm:  Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản năm 2020 ?

Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm
1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Toà án chấp nhận.
2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận.
3. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Toà án chấp nhận.

Vì vậy, nếu tòa án chấp nhận yêu cầu của bên B thì mẹ bạn sẽ phải chịu án phí, còn tòa không chấp nhận yêu của bên B thì mẹ bạn sẽ không phải chịu án phí

Điều 39. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản tại Pháp lệnh 02/2012/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì:

1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp các bên đương sự không thống nhất được về giá mà yêu cầu Tòa án định giá hoặc Tòa án quyết định định giá theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc trong trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật Tố tụng hành chính thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. Trường hợp trong vụ việc có nhiều đương sự thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo mức do Tòa án quyết định.

3. Hội đồng định giá, tổ chức định giá tài sản có quyền từ chối thực hiện việc định giá tài sản khi nhận được thông báo của Tòa án về việc người yêu cầu định giá không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.

Như vậy, bên B yêu cầu định giá tài sản thì bên B sẽ phải trả chi phí thẩm định giá.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai

>> Xem thêm:  Thủ tục cấp sổ đỏ cho đất nông nghiệp