1. Xử lý trường hợp vu khống người khác ?

Kính chào luật sư, tôi có một vấn đề về vu khống và không biết phải giải quyết ra sao. Cụ thể như sau: Ở trên xóm tôi có một nhà có mất tài sản là ( 2 máy cưa gỗ trị giá khoảng 15 triệu) sau khi họ đã gửi đơn trình báo cho cơ quan công an điều tra và họ viết trong đơn là nghi ngơ tôi lấy nhưng thật ra tôi không cùng 1 xóm.
Đặc biệt tôi cũng chưa từng vào nhà ông này bao giờ làm sao mà tôi biết ông có máy và nơi cất máy. Và công an có xuống chở tôi lên như tội phạm, sau đó họ tra khảo và đánh tôi gần 1 ngày không có kết quả rồi công an cho về sự thật là tôi không lấy bây giờ công an đã chuyển điều tra vào đối tượng khác vậy là tôi không nằm trong diện điều tra của công an nhưng sau đó vài gia đình mất máy lại tới nhà rủ tôi đi xem tại vì ông đã đi xem bói trước nói là thầy bói là tôi lấy,ông thầy bói nói là phải dẫn tôi lên ông bói nhưng gia đình không cho tôi đi,lúcchuẩn bị dẫn tôi đi xem bói họ định không cho gia đình tôi biết. Sau đó nữa bố của ông đó cứ đi xóm nay xóm kìa tung tin nói là tôi lấy 100%.và kể cả đi tới nhà họ hang tôi cũng nói là tôi lấy và gia đình tôi nói mấy ông có bằng chứng 100% thì kiện cho đi tù. Và ông đó đi tung tin đồn rất nhiều lần cho tới bây giờ làm tôi mất danh dự với mọi người và hễ gặp ai ngồi nói chuyện ông cũng kể cho họ như là tôi lấy, kể cả công an kết luận tôi không dính trong vự này.
Vậy bây giờ tôi xin luật gia cho tôi hỏi mình có thể kiện ông về tội vu không,xúc phạm danh dự người khác không.và phải làm đơn như thế nào ?
Vậy trong khi chờ đợi tôi xin cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn của chúng tôi. Vấn đề của bạn Công ty Luật Minh Khuê xin trả lời vấn đề của bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 34, Bộ luật Dân sự 2015, Danh dự, nhân phẩm và uy tín của công dân được pháp luật thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ.

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.
4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Trường hợp danh dự, nhân phẩm uy tín của một người bị xâm phạm thì có thể được xử lý theo 2 hướng sau:

Xử phạt hành chính:

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CPmức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi làm nhục người khác như sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

Truy cứu trách nhiệm Hình sự:

Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 quy định về tội vu khống như sau:

Điều 156. Tội vu khống
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người đang thi hành công vụ;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%77;
h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Vì động cơ đê hèn;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên78;
c) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định trên, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Lưu ý đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

- Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội bị vu khống. Bộ luật Hình sự quy định vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là cấu thành tăng nặng với mức hình phạt từ một năm đến bảy năm tù.

Như vậy có thể thấy, hành vi của người trên đã phạm tội vu khống bạn vì ông ta đã biết rõ bạn không có lấy trộm tài sản, chỉ vì tin lời thầy bói mà nghi ngờ và đổ tội cho bạn, đi lan truyền thông tin sai sự thật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và danh dự của bạn, khiến cho ai mất trộm cũng nghĩ bạn là thủ phạm.

Bên canh đó

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 cũng quy định về tội làm nhục người khác như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy,

Theo như những gì bạn đưa ra, có thể thấy danh dự và nhân phẩm của bạn đã bị xúc phạm nghiêm trọng, khiến bạn xấu hổ với bà con lối xóm. Vậy bạn có quyền làm đơn yêu cầu gửi cơ quan điều tra (công an địa phương) và gửi Viện KSND huyện (thành phố) nơi đang sinh sống để yêu cầu được giải quyết.

Dựa theo những căn cứ mà bạn đưa ra, bạn có thể xem xét việc tố cáo với cơ quan điều tra công an cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) hành vi của người em dâu đó. Khi nhận được đơn, nếu có đủ căn cứ để cho rằng có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra truy cứu trách nhiệm Hình sự hoặc xử phạt vi phạm Hành chính theo quy định như trên.

Bộ Luật tố tụng Hình sự 2015 quy định:

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo