1. Bị người khác vu khống lừa đảo qua mạng xã hội ?

Xin chào luật sư. Em có tham gia 3 nhóm phượt trên mạng xã hội. Em vừa rời khỏi 2 nhóm cách đây không lâu. Dạo gần đây em nghe một vài thông tin nói về em trên trang các nhóm là lừa đảo khi chưa gặp mặt. 2 nhóm đó đăng bài lên tường và nói với các thành viên là cẩn thận để tránh bị lừa đảo.
Kèm theo là những dòng trạng thái là hình ảnh đoạn chat của em và 1 người nào đó trong nhóm. Nhưng sự thật là em không hề biết gì về đoạn chat đó. Các thành viên, kể cả chủ nhóm củng không hỏi em việc đó là sai hay đúng. Và em sợ những hình ảnh đó sẽ không chỉ xuất hiện ở 1 trang mạng mà còn lên nhiều trang khác.
Cho em hỏi. Nếu em muốn khiếu nại họ về tội vu khống, bôi nhọa danh dự người khác thì có được hay không? Mong luật sư cho em câu trả lời sớm nhất để giải quyết ?
Chân thành cảm ơn và mong các luật sư giúp đỡ.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn bị vu khống trên mạng xã hội. Hành vi này tùy thuộc và mức độ vi phạm cũng như hậu quả xảy ra có thể bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm dân sự nặng hơn có thể là bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

1. Chịu trách nhiệm dân sự:

Theo Bộ Luật dân sự 2015 thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, ...Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại?

Theo Bộ Luật dân sự 2015 thì người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường và người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

- Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

- Thiệt hại khác.

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

2. Về trách nhiệm hình sự

Vu khống là hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người khác, hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Các yếu tố cấu thành tội vu khống:

Mặt khách quan: Mặt khách quan của Tội vu khống có các dấu hiệu sau:

– Về hành vi, người phạm tội vu khống có một trong ba dạng hành vi sau đây:

+ Bịa đặt: Hành vi này được thể hiện thông qua việc người phạm tội đưa ra những thông tin không đúng sự thật, tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có với người khác. Hình thức đưa ra thông tin có thể ở các dạng khác nhau như truyền miệng, viết đơn, qua các phương tiện thông tin đại chúng,…

+ Loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật: Người phạm tội dù không bịa đặt nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền thông tin cũng có thể thể hiện đa dạng qua nhiều hình thức như: kể lại cho người khác nghe, đăng bài, chia sẻ bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng,…

+ Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Người phạm tội dù biết rõ người mình tố giác không có hành vi phạm tội nhưng vẫn tố cáo họ trước Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ( Công an, Viện Kiểm sát,…)

– Về hậu quả: Tội phạm không bắt buộc phải gây ra hậu quả trên thực tế.

Khách thể: Các hành vi nêu trên xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân.

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Mục đích xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

Theo đó, người truyền bá thông tin sai sự thật, vu khống anh ( chị ) có thể bị phạt thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Tùy theo mức độ nghiêm trọng do hành vi này gây ra mà người làm ra, phát tán cáctin sai sự thật này có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm.

=> Tuy nhiên, trong trường hợp này để bảo vệ quyền lợi và danh dự, nhân phẩm của mình,bạn của bạn cần làm đơn tố cáo hành vi của người này đến cơ quan công an cấp huyện nơi người đó cư trú, hoặc làm đơn trình báo lên cơ quan công an cấp quận huyện nơi bạn đang cư trú hợp pháp để được giải quyết, đồng thời, bạn cũng có thể yêu cầu đòi bồi thường danh dự, nhân phẩm của mình bị xâm phạm như mức thiệt hại đã nêu ở trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

2. Có thể kiện người khác tội vu khống không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có làm chung bệnh viện với một người. Dạo gần đây người đó thường hay mất đồ. Bạn ấy nghi ngờ em lấy đồ của bạn ấy đã tự tiện mở tủ đồ của em để xét. Bạn ấy thấy những đồ dùng của em giống đồ của bạn ấy đã mất nên đã vu khống em là người ăn cắp và còn lấy đồ của người khác bỏ vào trong balo của em và nói em là người lấy.
Như vậy em có thể kiện bạn ấy tội vu khống được không ạ ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Theo Bộ luật dân sự năm 2015 Điều 593 có quy định:

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Trong trường hợp này, việc người bạn làm chung của bạn bịa đặt, nói xấu, tuyên truyền những thông tin không có thật về bạn có thể được xét vào gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và uy tín cho bạn. Việc bạn có thể được bồi thường hay không, hay số tiền bồi thường phụ thuộc vào thiệt hại thực tế do hành động xâm phạm gây ra. Ví dụ: do lời bịa đặt của người bạn kia, mà bạn bị trừ lương, kỷ luật, không được xét thi đua,v..v..., thì bạn có thể xem xét khởi kiện để đòi bồi thường.

Hi vọng câu trả lời của chúng tôi giải đáp được thắc mắc của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?

3. Đăng hình ảnh vu khống người khác ?

Thưa Luật sư: tôi có mua sim của một người. Theo đó, tôi rất hay nhận được cuộc gọi đòi tiền nhưng trên thực tế tôi không hề mượn tiền ai cả. Người đó tra số điện thoại trên zalo và tìm ảnh rồi đăng ảnh của tôi lên mạng xã hội. Hỏi tôi phải làm gì trong trường hợp này ?

Đăng hình ảnh vu khống người khác?

Luật sư tư vấn pháp luật Hành chính, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Khoản 5 và khoản 8 Điều 9 Luật Báo chí 2016 quy định những hành vi bị nghiêm cấm như:

"5. Tiết lộ thông tin thuộc danh Mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật.

8. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án."

Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
"Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình và việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý... Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật."
Như vậy, pháp Luật sẽ bảo vệ công dân và xử lý với hành vi tiết lộ hình ảnh cá nhân nhằm thông tin sai sự thật, xuyên tạc vu khống ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm người khác. Theo đó:
- Có thể xử phạt hành chính :
Quy định tại điểm e khoản 2 Điều 8 Nghị định 159/2013 Quy định về xử phạt hành chính trong Hoạt động báo chí, xuất bản. . Theo đó, người vi phạm sẽ bị phạt tiền 1-3 triệu đồng đối với một trong các hành vi đăng, phát ảnh của cá nhân mà không được sự đồng ý của người đó, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu mức độ ảnh hưởng của việc đăng tải nghiêm trọng thì áp dụng điểm b khoản 4 Điều 8 của nghị định này về hành vi “đăng, phát thông tin xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự, uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân” với mức phạt tiền 10-20 triệu đồng. Biện pháp khắc phục hậu quả cho những hành vi vi phạm này là buộc phải cải chính, xin lỗi.

Theo điểm e, điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013 quy định phạt tiền 10-20 triệu đồng.
Ngoài ra, nếu có dấu hiệu về tội phạm Hình sự về tội Vu khống ( Điều 156 Bộ Luật Hình sự) thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Như vậy để đòi quyền lợi bạn có thể khởi kiện ra tòa để tòa án giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mức phạt về tội làm nhục người khác như thế nào ? Phát tán video nhạy cảm bị phạt thế nào ?

4. Yêu cầu bồi thường, xin lỗi vì làm nhục, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác ?

Kính chào Luật Minh Khuê. Cháu năm nay 26 tuổi. Kết hôn được 2 tháng, hiện cháu đang sống ly thân. Cháu về làm dâu thì bị bố mẹ chồng chửi mắng rất thậm tệ, mặc dù cháu không sai, không cãi láo. Bố chồng cháu chửi cháu là con quỷ, con quái..., còn mẹ chồng với cô chồng thì dúi đầu chửi cháu là con đĩ, lừa lọc gia đình chồng.
Khi cháu xin phép để nói thì bố chồng cháu nói "mày câm mồm mày lại, tao không nghe mày giải thích, tao không cho mày nói", nên cháu không nói được câu nào cả. Bố chồng cháu là Đảng viên, công tác bên bảo hiểm xã hội. Chồng cháu thì nghe bố mẹ, bố mẹ bảo bỏ cháu nên cũng nghe theo viết đơn đơn phương ra tòa, giờ tòa gọi cháu ra. Cháu muốn nhờ luật Minh Khuê tư vấn cho cháu xem, cháu muốn bố mẹ chồng cháu xin lỗi và bồi thường cho cháu vì đã làm nhục, xúc phạm đến nhân phẩm danh dự của cháu có được không? (bố mẹ chồng cháu chửi cháu không cho cháu cầm điện thoại hay bất cứ thứ gì cả nên cháu không ghi âm được, cũng không có bằng chứng), vì ông bà chửi qúa nên cháu bị ngất phải cấp cứu ở viện, nhưng bố mẹ chồng cháu không chăm sóc gì cả. Cháu rất mong luật Minh Khuê tư vấn cho cháu với ạ ?
Cháu xin cảm ơn ạ!

>> Luật sư tư vấn dân sự về bồi thường thiệt hại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định:

"Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm."

Ðiều 34 Bộ Luật dân sự 2015có quy định:

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Mặt khác, Ðiều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Căn cứ Ðiều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được xác định bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn có quyền yêu cầu bố mẹ chồng bạn phải xin lỗi và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do họ đã có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của bạn. Nếu bố mẹ chồng bạn không chịu xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho bạn thì bạn đương nhiên có quyền làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền (cơ quan công an, tòa án nhân dân …) để được giải quyết.

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

5. Yêu cầu bồi thường sai người có phải vu khống ?

Xin chào luật Minh Khuê ! Tôi có thắc mắc chút vấn đề về bảo hiểm, xin luật sư tư vấn giúp tôi. Năm 2013 tôi có kí hợp đồng làm đại lí cho một cty bảo hiểm, công việc chính là bán bảo hiểm xe máy. Đến nay, tôi nhận được một thông báo của cty đó gửi cho tồi về vụ việc một giấy chứng nhận bảo hiểm xe máy viết thông tin sai lệch, liên giao cho khách hàng và liên lưu giữ tại cty có thông tin khác nhau.
Hiện tại xe máy đó gây tai nạn chết người, nhưng cty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường và gửi công văn thông báo vụ việc và yêu cầu tôi chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng trên thực tế căn cứ sổ giao nhận từ nhân viên kinh doanh của công ty (người giao nhận bảo hiểm với tôi) thì tôi không kí nhận và bán giấy chứng nhận bảo hiểm đó, người khác kí nhận bán.
Tôi xin hỏi luật sư, như vậy có phải tôi bị vu khống hay không. Tôi muốn khiếu nại cty, yêu cầu xin lỗi và bồi thường danh dự cho tôi có được không ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi sớm ! Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019 quy định về Tội vu khống như sau:

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền nhng điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy d, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử đphạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31% đến 60%77;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên78;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định trên, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Lưu ý đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

Trong trường hợp này, công ty có đủ những dấu hiệu như trên thì có thể coi là vu khống cho người khác.

Tuy nhiên, nếu có bằng chứng xác thực việc này không liên quan đến bạn, bạn có thể khiếu nại, yêu cầu công ty xin lỗi và bồi thường (nếu có hậu quả xảy ra).

Trên đây là tư vấn để cá nhân, tổ chức tham khảo, mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khi bị đánh có khởi kiện được không ? Đánh ghen khi nào thì vi phạm pháp luật ?