1. Đối với hợp đồng lao động vô hiệu từng phần

Theo Khoản 2 Điều 49 BLLĐ năm 2019 thì HĐLĐ vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.
Điều 49. Hợp đồng lao động vô hiệu
2. Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.
Do đó chỉ nội dung bị vô hiệu thì sẽ mất hiệu lực thực hiện, các nội dung khác vẫn có hiệu lực thực hiện bình thường. Theo đó, đối với HĐLĐ có nội dung trái với những quy định của pháp luật sẽ không được công nhận, vì nó sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của NSDLĐ, của NLĐ hoặc các chủ thể khác. Tuy nhiên, vì HĐLĐ là cơ sở để các bên dựa vào đó làm căn cứ để bảo vệ quyền lợi của mình nên nếu trong trường hợp nội dung HĐLĐ chỉ có một phần trái với quy định của pháp luật nhưng phần đó không ảnh hưởng đến nội dung của các phần còn lại của hợp đồng thì hợp đồng đó sẽ không bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ mà tuyên bố vô hiệu từng phần. Điều này có nghĩa rằng quan hệ lao động do việc giao kết hợp đồng xác lập nên về cơ bản vẫn được pháp luật thừa nhận và có hiệu lực. Quan điểm khi xử lý các HĐLĐ vô hiệu từng phần là sửa đổi, bổ sung, thay thế phần vô hiệu bằng một phần khác có hiệu lực. Nếu các bên không thay thế thì phần trái pháp luật sẽ đương nhiên bị vô hiệu và thay thế vào những phần vô hiệu này là các quy định tương ứng của pháp luật lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể. Chẳng hạn trong nội dung về tiền lương hai bên thỏa thuận mức lương trong HĐLĐ thấp hơn mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định hay thấp hơn mức lương tối thiểu trong thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp, trong trường hợp này, HĐLĐ vô hiệu từng phần do vi phạm nội dung về thỏa thuận mức lương trái với quy định của pháp luật nhưng không ảnh hưởng tới hiệu lực của những phần khác trong hợp đồng như thời hạn công việc, công việc phải làm.
Ở đây cần lưu ý là có thể một phần nội dung của HĐLĐ bị vô hiệu nhưng quan hệ lao động đã được xác lập giữa các bên vẫn tồn tại và được pháp luật thừa nhận. Để hợp đồng được tiếp tục thực hiện, các nội dung có hiệu lực phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hoặc bị hủy bỏ theo ý chí của cơ quan có thẩm quyền.

2. Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

Tuyên bố HĐLĐ vô hiệu là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền nhằm xác nhận một sự kiện, đó là HĐLĐ giao kết không có hiệu lực pháp luật. Tuyên bố HĐLĐ vô hiệu đồng nghĩa với việc chấm dứt HĐLĐ tại thời điểm tuyên bố vô hiệu mà không có ý nghĩa là các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu như trong dân sự. Quan hệ lao động trong khoảng thời gian trước khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu được pháp luật thừa nhận như một "quan hệ lao động thực tế" và được đối xử tương tự như đối với một quan hệ HĐLĐ có hiệu lực pháp luật.
Tuyên bố HĐLĐ vô hiệu có đặc điểm sau: Việc tuyên bố HĐLĐ vô hiệu làm chấm dứt (vô hiệu toàn bộ) hoặc làm thay đổi quan hệ lao động hợp đồng (vô hiệu từng phần), cho nên việc xác nhận một HĐLĐ vô hiệu là việc xác nhận một sự kiện pháp lý. Vì vậy chủ thể có thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu phải là một cơ quan nhà nước. Một tổ chức xã hội, phi chính phủ không có thẩm quyền này. Mục đích của việc tuyên bố và xử lý HĐLĐ vô hiệu là trả lại trạng thái thực của quan hệ lao động. Nếu HĐLĐ vô hiệu toàn bộ thì ngay lập tức các bên phải chấm dứt việc thực hiện hợp đồng, vì thực chất giữa hai bên không có một HĐLĐ đúng nghĩa hoặc không được pháp luật thừa nhận có một HĐLĐ. Nếu là HĐLĐ vô hiệu từng phần thì các bên phải sửa đổi những vấn đề vi phạm cho phù hợp pháp luật, còn nếu không tự nguyện sửa đổi thì cơ quan có thẩm quyền buộc sửa đổi. Nếu các bên không muốn tiếp tục duy trì HĐLĐ, vì hợp đồng đã bị sửa đổi, thì phải chấm dứt HĐLĐ theo các điều kiện mà pháp luật cho phép (thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng). Việc xử lý HĐLĐ không phụ thuộc ý chí các bên trong hợp đồng. Quyết định xử lý HĐLĐ vô hiệu mang tính quyền lực bắt buộc các bên phải tuân thủ, các bên không thể thỏa thuận để tiếp tục duy trì HĐLĐ vô hiệu trừ trường hợp các bên thỏa thuận sửa đổi vi phạm. Với những đặc điểm trên, cơ quan tuyên HĐLĐ vô hiệu và xử lý HĐLĐ vô hiệu phải là một cơ quan có thẩm quyền (được pháp luật trao quyền), có kiến thức pháp luật sâu sắc và quyết định của cơ quan đó có ý nghĩa bắt buộc các bên.
Để xem xét một HĐLĐ có vô hiệu hay không cần có những cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền xác định do đó việc quy định về thẩm quyền và trình tự thủ tục tuyên bố HĐLĐ vô hiệu là một vấn đề rất quan trọng. Hiện nay, BLLĐ năm 2012 quy định tại Khoản 1 Điều 51 về thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu thuộc về hai cơ quan, một cơ quan khối hành pháp, một cơ quan thuộc khối tư pháp là Thanh tra lao động, Toà án nhân dân có quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu.
Tuy nhiên, trên thực tế, khi thanh tra lao động ra quyết định tuyên bố HĐLĐ vô hiệu và đưa ra nội dung yêu cầu buộc các bên phải thực hiện trong đó có cả yêu cầu khắc phục về lợi ích vật chất mà các bên phải thực hiện, bởi đây là loại hợp đồng song vụ, lợi ích của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Giả sử, trong quyết định của thanh tra có nội dung buộc NSDLĐ phải thanh toán một khoản tiền cho NLĐ vì lý do NSDLĐ trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ. Vấn đề đặt ra là, nếu bên sử dụng lao động không thực hiện thì cơ quan nào chịu trách nhiệm cưỡng chế thi hành quyết định của thanh tra. Do đó, buộc NLĐ phải căn cứ vào quyết định tranh tra để khởi kiện NSDLĐ ra tòa. Như vậy, quy định về thẩm quyền tại BLLĐ năm 2012 như trên không gọn về thủ tục, gây tốn nhiều thời gian đối với NLĐ.
Còn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, khi tòa án giải quyết việc tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, nếu tòa chấp nhận đơn yêu cầu của đương sự thì tòa có quyền ra quyết định tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, xử lý hậu quả HĐLĐ. Quyết định của tòa, nếu không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật và có tính cưỡng chế thi hành theo Luật Thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó, cơ quan Thi hành án dân sự cứ việc căn cứ theo quyết định, bản án của tòa mà thực thi nhiệm vụ. Do vậy, việc thực thi phán quyết của tòa án vẫn khả thi hơn, hiệu quả hơn, đảm bảo hơn so với việc thực hiện quyết định của Thanh tra Lao động.
Khắc phục những hạn chế trong quy định của BLLĐ năm 2012 về thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, tại Điều 50 BLLĐ năm 2019 quy định: "Toà án nhân dân có quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu". Khác với quy định tại BLLĐ cũ về thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu thuộc về hai cơ quan là Thanh tra Lao động và Tòa án nhân dân, với quy định trên, có thể hiểu thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu kể từ ngày BLLĐ 2019 có hiệu lực thuộc về một cơ quan duy nhất là Tòa án nhân dân. Qua phân tích, có thể khẳng định quy định trên của BLLĐ năm 2019 đồng thời cũng phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016, theo đó thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu chỉ thuộc về Tòa án nhân dân. Có thể thấy, BLLĐ năm 2019 đã phát huy điểm tích cực của pháp luật hiện hành và tương thích với BLTTDS 2015 khi quy định thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu thuộc về Tòa án nhân dân. Bên cạnh đó, việc thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu ở pháp luật lao động được quy định thống nhất trong một điều luật, qua đó thì việc áp dụng pháp luật lao động được nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Có thể nói, quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu thể hiện tính cưỡng chế của Nhà nước đối với các bên trong việc khắc phục các khuyết điểm của hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi của bên bị thiệt hại, đồng thời đảm bảo cho trật tự pháp lý do Nhà nước đặt ra được thực hiện một cách đầy đủ và đúng đắn.

3. Hậu quả pháp lý đối với hợp đồng lao động vô hiệu

Hậu quả pháp lý của HĐLĐ vô hiệu là các hệ quả xảy ra theo quy định của pháp luật khi HĐLĐ vô hiệu. Về nguyên tắc, một HĐLĐ nói chung bị coi là vô hiệu toàn bộ sẽ không có giá trị pháp lý, không tồn tại bất cứ quyền và nghĩa vụ nào của các bên đối với nhau cho dù hợp đồng đã thực hiện được một phần hay toàn bộ. Điều đó có nghĩa là giữa các bên coi như không có mối quan hệ nào. Theo nguyên tắc này, việc xử lý HĐLĐ vô hiệu sẽ không phát sinh nhiều phức tạp, các bên chỉ cần khôi phục lại trạng thái ban đầu như khi chưa có sự thỏa thuận. BLLĐ năm 2019 không có quy định rõ về hậu quả pháp lý của HĐLĐ vô hiệu. Chính vì vậy, chúng ta có thể dựa vào các quy định của pháp luật dân sự là những nguyên tắc cơ bản được áp dụng cho việc giải quyết hậu quả của HĐLĐ vô hiệu.

3.1 Đối với HĐLĐ vô hiệu từng phần

Phần nào bị vô hiệu thì không có giá trị thực hiện. Tùy theo từng trường hợp mà các bên có sự sửa đổi, bổ sung hay cơ quan có thẩm quyền có thể tuyên bố phần đó vô hiệu và thay thế bằng một nội dung tương ứng được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động hoặc nội quy lao động.

3.2 Đối với HĐLĐ vô hiệu toàn bộ

Trường hợp NLĐ chưa bắt đầu làm việc thì nhìn chung giữa các bên chưa phát sinh quyền, nghĩa vụ với nhau và cũng không thể được phát sinh trong tương lai, bởi hợp đồng không có giá trị thực hiện kể từ thời điểm xác lập. Trong trường hợp hợp đồng đã thực hiện, về nguyên tắc hợp đồng cũng không có giá trị pháp lý kể từ thời điểm giao kết. Tuy nhiên, nhìn chung không thể áp dụng nguyên tắc "hoàn trả những gì đã nhận được của các bên cho nhau". Do vậy, cần xử lý cho thời gian thực hiện hợp đồng như khi hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý. Nói cách khác, trong thời gian đó, các bên vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với nhau như khi HĐLĐ tồn tại một cách hợp pháp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê