1. Ngân hàng bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài cần đáp ứng điều kiện gì?

Theo quy định chung của pháp luật, chỉ có các tổ chức tín dụng được thành lập dưới hình thức tổ chức là công ty cổ phần mới có quyền phát hành cổ phiếu ra thị trường để huy động vốn. Phát hình chứng khoán đã trở thành một trong những kênh huy động vốn quan trọng với ưu điểm có có thể thu hút được lượng vốn lớn, đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết trong từng giai đoạn phát triển. Với việc mở cửa hội nhập kinh tế, thị trường tài chính, ngân hàng cũng ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ. Trên cơ sở hợp tác cùng phát triển, pháp luật đã ghi nhận quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong việc mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam. Ngân hàng chào bán cổ phẩn cho nhà đầu tư nước ngoài cần đáp ứng những điều kiện sau:

- Tổ chức tín dụng chuyển đổi hình thức pháp lý thành tổ chức tín dụng cổ phần phải có phương án cổ phần hóa, phương án chuyển đổi được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật, trong đó có phương án bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài.

- Tổ chức tín dụng cổ phần phải có phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ được Đại hội đồng cổ đông thông qua, trong đó có phương án bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài.

- Đối với tổ chức tín dụng cổ phần có tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ, phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý tài chính của doanh nghiệp nhà nước trước khi trình Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Có thể thấy, pháp luật hiện hành đã có những quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các tổ chức tín dụng Việt Nam nói chung và tại Ngân hàng thương mại nói riêng. Bên cạnh đó, trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần dẫn đến sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên tại tổ chức tín dụng Việt Nam thì cần đáp ứng một số điều kiện tương ứng. Đồng thời, tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động bán cổ phần cho những nhà đầu tư nước ngoài nói trên cũng cần thực hiện dựa trên những điều kiện nhất định.

 

2. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng

Căn cứ theo quy định tại Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại tổ chức tín dụng Việt Nam được quy định như sau:

- Đối với cá nhân nước ngoài tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần không được vượt quá 5% vốn điều lệ

-  Đối với tổ chức nước ngoài tỷ lệ sở hữu vốn không được vượt quá 15% vốn điều lệ trừ trường hợp quy định về nhà đầu tư chiến lược

- Đối với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tỷ lệ sở hữu vốn không được vượt quá 20% vốn điều lệ

-  Đối với nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài tỷ lệ sở hữu vốn không được vượt quá 20% vốn điều lệ 

- Đối các nhà đầu tư nước ngoài tổng mức sở hữu cổ phần không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam.

+ Đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng phi ngân hàng Việt Nam tổng mức sở hữu cổ phần theo quy định của pháp luật đối với công ty đại chúng, công ty niêm yết.

- Trong trường hợp đặc biệt để thực hiện cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém, gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng thì: Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém được cơ cấu lại vượt quá giới hạn quy định đối với từng trường hợp cụ thể.

- Tỷ lệ sở hữu quy định nêu trên bao gồm cả phần vốn nhà đầu tư nước ngoài ủy thác cho tổ chức, cá nhân khác mua cổ phần.

- Nhà đầu tư nước ngoài chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi của tổ chức tín dụng Việt Nam sang cổ phiếu phải đảm bảo tỷ lệ sở hữu cổ phần, điều kiện sở hữu cổ phần theo quy định.

 

3. Đề xuất nâng tỷ lệ sở hữu cổ phần ngân hàng của nhà đầu tư nước ngoài

Tại tờ trình Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước báo cáo đề xuất này sẽ tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng nhận chuyển giao tăng cường được năng lực tài chính khi thu hút thêm được vốn đầu tư nước ngoài, tăng vốn chủ sở hữu, nâng cao năng lực quản trị điều hành, đổi mới công nghệ...

Theo kế hoạch, có 4 ngân hàng thương mại cổ phần sẽ nhận chuyển giao bắt buộc đối với 4 ngân hàng yếu kém. Trong đó, có 2 ngân hàng thương mại cổ phần, nhận chuyển giao tại phương án chuyển giao bắt buộc có đề xuất được nâng tỉ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng lên 49%.

Ngân hàng đánh giá việc chấp thuận cho các ngân hàng thương mại cổ phần nhận chuyển giao tăng vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài vượt 30% vốn điều lệ và không quá 49% vốn điều lệ của ngân hàng sẽ ảnh hưởng không quá lớn đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Tổ chức nước ngoài đó phải có nguồn lực tài chính đủ mạnh. Đồng thời, việc mua cổ phần không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam, không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh trong hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Về tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng Nhà nước cho rằng hiện nay chỉ nên mở rộng và khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các tổ chức tín dụng yếu kém và tổ chức tín dụng nhận chuyển giao, chưa nên mở rộng ra tất cả tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, ngân hàng là một trong những ngành nhạy cảm với an ninh kinh tế quốc gia, vì vậy việc quy định tỷ lệ sở hữu tối đa để hạn chế quyền kiểm soát đối với nhà đầu tư nước ngoài là cần thiết. Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng ngành ngân hàng cần được đối xử công bằng như với những ngành khác, theo đó cần nới lỏng tỷ lệ vốn sở hữu nước ngoài để tăng thêm sức hấp dẫn, cũng như cho phù hợp với thông lệ quốc tế.

Đứng ở góc độ nhà đầu tư nước ngoài, dù các quy định hiện nay đã cho phép thành lập tổ chức tín dụng vốn 100% nước ngoài, và hiện đã có 9 ngân hàng thuộc nhóm này, tuy nhiên nhiều nhà đầu tư vẫn chỉ muốn thăm dò thị trường bằng cách mua cổ phần một ngân hàng nội địa với tỷ lệ sở hữu vượt trội để nắm quyền quản trị.

Vì vậy, nếu quy định sở hữu nước ngoài được điều chỉnh tăng, khả năng sẽ có thêm nhiều tổ chức quốc tế tham gia sở hữu các ngân hàng trong nước, đặc biệt là nhắm đến các ngân hàng nhỏ mà suốt thời gian qua không thể tăng thêm vốn điều lệ.

Chính vì vậy, các cơ quan quản lý cũng nên cân nhắc giải pháp cung cấp nhiều tùy chọn. Cụ thể như đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài có thể linh hoạt từ 30 - 40%, khi mà Chính phủ đã có mục tiêu đến năm 2025 giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước ở nhóm này về mức tối thiểu 51% thay vì 65% như hiện nay.

Điều này có thể giúp nhóm ngân hàng nhỏ có thể tăng vốn nhanh hơn, từ đó cải thiện năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng. Điều quan trọng hơn là không chỉ tăng thêm sự hấp dẫn cho ngành, thể hiện sự cam kết mở cửa trong lĩnh vực tài chính, mà nhà điều hành vẫn có thể giữ được sự kiểm soát và quản lý phù hợp để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại tổ chức tín dụng Việt Nam là gì ? của Luật Minh Khuê.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!