Luật sư tư vấn:

Vấn đề Bạn quan tâm, tìm hiểu - Luật Minh Khuê xin đưa ra một tình huống pháp lý, phân tính, đánh giá  và vận dụng như sau:

Bảo đảm cho vay bằng cầm cố sổ tiết kiệm được xem là sản phẩm tín dụng thường được mời chào. Thực hư giao dịch này đang được các tổ chức tín dụng thực hiện với khách hàng vay như thế nào? Mức độ hiệu quả, cũng như rủi ro, nguy cơ đến đâu, thiết nghĩ cần tiếp tục phân tích làm rõ, đối chiếu xem có đúng với những khuyến cáo thường thấy của Ngân hàng Nhà nước hay không?

 

1. Về ưu điểm của biện pháp bảo đảm cầm cố sổ tiết kiệm

Xét về ưu điểm của biện pháp bảo đảm này, theo có thể cần nhìn nhận những giá trị tích cực như sau:

+ Lợi ích của người gửi tiền nếu phải rút vốn khi chưa đáo hạn (lãi suất chuyển sang không kỳ hạn, mức lãi này rất thấp, thông thường khoảng từ 0,1% - 1%/nàm) để giải quyết cho các nhu cầu cấp bách, với các thủ tục nhanh gọn, người vay tự do sử dụng vốn vay theo quyết định của mình;

+ Lợi ích của ngân hàng cho vay lãi suất cao hơn các khoản vay bình thường khác với cùng mục đích, duy trì quan hệ với khách hàng vay vốn;

+ Mở rộng các biện pháp bảo đảm, tăng cường cho vay đưa vốn tín dụng ra thị trường. Song, ở chiều ngược lại, về bản chất, giao dịch dạng này không tạo ra dư nợ tín dụng trong quan hệ với việc sử dụng hợp lý tiền gửi của tổ chức tín dụng. Nghiên cứu khoa học ngân hàng còn chỉ ra hiện tượng “tín dụng ma” (phantom loan), tín dụng tạo ra tài sản ảo trên sổ sách ngân hàng tại thời điểm cho vay, “làm méo mó tổng tài sản của ngân hàng”, các nước cấm áp dụng.

 

2. Nhược điểm có thể xảy ra đối với phương pháp này

Bên cạnh đó, qua nghiên cứu, có thể nhận diện thêm hai rủi ro xuất phát từ mốĩ quan hệ hình thức pháp lý của hai hợp đồng xuất phát từ đặc thù, chủ thể vay vốn cũng chính là chủ thể quản lý tài sản bảo đảm tiền gửi tiết kiệm. Theo lẽ thông thường, bên vay hoàn toàn dễ dàng rút tiền gửi tiết kiệm để sử dụng vào bất kỳ mục đích nào mong muôn. Việc các ngân hàng cho phép áp dụng phương thức bảo đảm này dễ dẫn đến những hệ lụy khó lường, nguy cơ làm vô hiệu hợp đồng bảo dam.

Thứ nhất, hành vi lập thẻ tiết kiệm giả mạo, vi phạm quy định gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm

Tình trạng ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm không đúng quy trình gửi tiền, người gửi không nộp tiền mặt, vi phạm quy định tiền gửi tiết kiệm vẫn có thể xảy ra trên thực tế.

Về phương diện nghiệp vụ, kinh nghiệm tại một ngân hàng thương mại có hướng dẫn như sau:

“Giám đốc nơi cho vay phân công cán bộ có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu các yếu tố ghi trên giấy tờ có giá khớp đúng với số tiền gửi lưu tại đơn vị (bao gồm cả dữ liệu trên IPCAS), phong tỏa giấy tờ có giá trong thời gian vay vốn...”

- Theo Điều 10 Quyết định số 318/QĐ-NHNo-HSX do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam ban hành ngày 17/3/2015 hướng dẫn cho vay cầm cố giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm trong hệ thống Ngân hàng. Với nghiệp vụ kể trên, công tác kiểm tra tài khoản tiền gửi tiết kiệm là bắt buộc, căn cứ để xác định số dư thực tế tại thời điểm giao dịch, cũng như áp dụng các giới hạn rút tiền gửi (phong tỏa tài khoản), biện pháp này phần nào sẽ phát huy tác dụng nếu các bên tuân thủ nghiêm túc các quy định gửi tiền trước đó, được quy định khá cụ thể tại Điều 12 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về tiền gửi tiết kiệm. Theo đó, tổ chức tín dụng thực hiện việc nhận đủ tiền gửi tiết kiệm và giao thẻ tiết kiệm cho người gửi tiền theo các cam kết ràng buộc được ghi trong thẻ tiết kiệm và quy định của pháp luật.

Đặc biệt, đối với các trường hợp cầm cố thẻ tiết kiệm ngoài hệ thống ngân hàng cấp thẻ tiết kiệm, trong điều kiện sự kết nối giữa các ngân hàng chưa được thực hiện tốt, người gửi tiền đồng thời cũng là người bảo đảm có thể cấu kết với nhân viên ngân hàng hoặc chủ động đưa ra nhiều lý do để rút tiền gửi, vi phạm quy trình gửi tiền (không nộp tiền mặt hoặc chuyển khoản vào kho quỹ ngân hàng). Điều này đẩy rủi ro các cho các tổ chức tín dụng nếu họ chỉ đơn thuần nhìn nhận số dư trên thẻ (chủ thẻ đang nắm giữ), lược bỏ quy trình kiểm tra giá trị hợp pháp của số dư tài khoản tiết kiệm, vi phạm các nguyên tắc cơ bản, an toàn trong hoạt động gửi tiết kiệm, cho vay của ngân hàng.

Thứ hai, nguy cơ tài sản (số dư thẻ tiết kiệm) không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm, làm vô hiệu hóa giao dịch bảo đảm

Việc nắm giữ thẻ tiết kiệm theo quan điểm của tác giả, không đồng nghĩa số dư tiền gửi tiết kiệm và lãi suất thuộc sở hữu hợp pháp của người đó, từ đó trao quyền cho ngân hàng nhận cầm cố được phép toàn quyền định đoạt bằng biện pháp nghiệp vụ, phong tỏa cấn trừ nợ vay khi cần thiết. Người nắm giữ tài sản và các chứng từ pháp lý kèm theo là điều kiện để xác lập giao dịch bảo đảm, song quy định này dưói góc độ dân sự chỉ phù hợp đối với một số tài sản nhất định. Điều 167 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 vẫn duy trì cho phép chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, ngay cả trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản từ việc lấy cắp, bị mất hoặc bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu. Dựa vào quan điểm của nhà làm luật quy định tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (Xem: Khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015). Khi đó các giao dịch cầm cố tiền gửi để bảo đảm khoản vay từ ngân hàng, nếu người bảo đảm không phải là chủ sở hữu hợp pháp, thì tổ chức tín dụng không được công nhận quyền ưu tiên xử lý tài sản (tiền gửi) đó.

Tóm lại, quan hệ giữa hợp đồng bảo đảm và hợp đồng vay dựa trên nguyên tắc an toàn, bảo đảm quyền lợi cho các tổ chức tín dụng. Duy trì quy định hợp đồng cho vay vô hiệu không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng bảo đảm cũng nhằm mục đích này. Song, với bản chất hợp đồng có phương thức cho vay đa dạng, thời hạn kéo dài, thêm vào đó, do tính phức tạp của chính tài sản bảo đảm nên việc gắn kết, ràng buộc này vẫn chưa được thực tiễn pháp luật giải quyết triệt để. Các sai phạm khi vận dụng luật vẫn thường xảy ra, gây thiệt hại lớn cho các tổ chức tín dụng, tạo tâm lý hoang mang cho các cán bộ, nhân viên tín dụng khi cho vay phải chịu trách nhiệm bồi thường do làm mất vốn.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.