Em xin được tư vấn ạk. Em xin cảm ơn. Người gửi : Lê Thị Thu

Trả lời: Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Nội dung phân tích

1. Về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân theo quy định pháp luật

- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

- Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Năng lực pháp luật dân sự là một trong hai loại năng lực của chủ thể cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân thể hiện khả năng của cá nhân có các quyền dân sự và có các nghĩa vụ dân sự. Những khả năng này được quyết định bởi các văn bản pháp luật là nguồn của quan hệ pháp luật dân sự, quy định cho các cá nhân là công dân Việt Nam hoặc các cá nhân khác tham gia quan hệ pháp luật dân sự trong phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự. Do năng lực pháp luật của cá nhân chỉ là khả năng cá nhân có các quyền dân sự và có các nghĩa vụ dân sự nên năng lực pháp luật dân sự của mọi cá nhân là như nhau không phân chia mức độ, không phân biệt giữa các cá nhân khác nhau dựa trên bất kỳ yếu tố nào như độ tuổi, trình độ văn hóa, khả năng nhận thức,... Đây là một trong những quy định cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng trong quân hệ dân sự.

Về nguyên tắc , thì thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự với cá nhân là khi cá nhân đó được sinh ra. Tuy nhiên, trong quy định về thừa kế có một trường hợp ngoại lệ đối với thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự của cá nhân như sau:

Điều 613:  Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Khả năng được hưởng quyền thừa kế của cá nhân, căn cứ từ năng lực pháp luật dân sự, sẽ phát sinh kể từ thời điểm cá nhân đó sinh ra. Do đó, họ sẽ chỉ là người thừa kế khi họ đã được sinh ra vào thời điểm để lại thừa kế chết.

2. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.

- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản.

- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

Điều 17 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về những quyền nhân thân, quyền tài sản và các nghĩa vụ dân sự của cá nhân trong các quan hệ dân sự. Theo đó, có ba nhóm quyền dân sự thuộc về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân đó là nhóm quyên nhân thân, nhóm quyền tài sản và nhóm quyền tham gai vào quan hệ dân sự, tương ứng với những nhóm quyền này các cá nhân có những nghĩa vụ phát sinh từ các nhóm quyền thuộc năng lực pháp luật dân sự của họ. Quyền nhân thân của cá nhân chia làm hai loại là quyền nhân thân không gắn liền với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản. Quyền nhân thân không gắn với tài sản là các quyền về giá trị tinh thần của các cá nhân mà khi thực hiện các quyền này không làm phát sinh các lợi ích vật chất. Quyền nhân thân gắn liền với tài sản là những quyền về giá trị tinh thần nhưng khi thực hiện các quyền này có thể làm phát sinh lợi ích vật chất như quyền tác giả, quyền đối với hình ảnh,.. Quyền tài sản là quyền của các cá nhân đối với tài sản của mình, đối với tài sản của người khác, quyền giá trị bằng tiền.

Nội dung cụ thể của quyền tài sản được quy định trong các điều luật tương ứng của Bộ luật dân sự. Ví dụ, nội dung của quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, và quyền định đoạt.

Quan hệ dân sự rất đa dạng và phức tạp, gồm quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân. Các cá nhân có quyền tham gia vào các quan hệ phù hợp với năng lực chủ thể của mình. Khi tham gia vào quan hệ dân sự cụ thể, cá nhân có các quyền và nghĩa vụ tương ứng trong quan hệ đó.

3. Người chưa thành niên

Trường hợp của em gái bạn, cho đến bây giờ vẫn chưa đủ 18 tuổi, cho nên thuộc người chưa thành niên theo quy định tại khoản 1 Điều 21 BLDS. Bên cạnh đó Điều 21 BLDS cũng quy định về các giao dịch dân sự mà người chưa thành niên tham gia:

   Điều 21: Người chưa thành niên

1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

4. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên

Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật này được xác định theo thứ tự sau đây:

Điều 47: Người được giám hộ

1. Người được giám hộ bao gồm:

a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;

b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;

...

- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

- Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

- Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

5. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

Theo quy định tại điều 56 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định cụ thể như sau :

- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

- Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Do khả năng nhận thực và làm chủ hành vi của người được giám hộ là chưa đầy đủ nên họ không thể bảo đảm quyền lợi hợp pháp của chính họ nếu để họ tự thực hiện việc quản lý tài sản thuộc sở hữu riêng của mình. Do đó, việc quản lý tài sản của người được giám hộ cần được thực hiện thông qua hành vi của người giám hộ. Người giám hộ có thể không thực hiện việc quản lý tài sản thuộc sở hữu của người được giám hộ nếu có quy định pháp luật khác.

Ủy quyền là việc cho phép người khác nhân danh mình để thực hiện công việc nào đó. Người đại diện hợp pháp của em gái bạn  là cha, mẹ của  bạn, vì mẹ bạn đã mất, trong thông tin bạn đưa ra, không nhắc đến cha của bạn, nếu trường hợp cha bạn vẫn còn sống và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì cha bạn sẽ là người đại diện theo pháp luật của em gái bạn, em gái bạn có thể ủy quyền cho bạn đi rút tiền tiết kiệm nếu như được sự đồng ý của cha bạn.

Trường hợp cha mẹ bạn đều đã mất, hoặc cha bạn còn sống nhưng không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để làm người đại diện thì anh, chị, em ruột của em gái bạn (tức là bạn) sẽ là người đại diện theo pháp luật của em gái bạn, bạn có quyền đi rút tiền từ sổ tiết kiệm đứng tên em gái bạn khi bạn được ủy quyền từ em gái mình.

Về thủ tục ủy quyền, như quy định tại khoản 1 Điều 18 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm nêu trên, tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (ngân hàng) sẽ quy định cụ thể về thủ tục ủy quyền phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan.

Do đó, nếu chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm muốn ủy quyền cho người khác thực hiện các công việc liên quan đến tiền gửi, tài khoản tiết kiệm của mình thì cần liên hệ với ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm để được hướng dẫn thủ tục ủy quyền cụ thể. Thông thường, một số ngân hàng yêu cầu Giấy ủy quyền phải được lập tại ngân hàng; trường hợp giấy ủy quyền không được lập tại ngân hàng thì phải có xác nhận của công chứng hoặc chính quyền địa phương theo quy định.

Người được ủy quyền khi đến rút tiền tiết kiệm theo ủy quyền phải có các giấy tờ: Sổ tiền gửi tiết kiệm đứng tên chủ sở hữu là người ủy quyền; chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn của người được uỷ quyền và Giấy uỷ quyền có xác nhận,…

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất hân hạnh được hợp tác .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê