1. Ủy ban nhân dân xã có thẩm quyền bán đất không ?

Thưa luật sư. Hiện nay trên địa bàn xã em có phần đất dôi dư, trong khu dân cư và gia đình em cũng đang sử dụng 250 m2 đất dôi dư này ( ao). Ngày 23 tháng 8 năm 2015 UBND xã em có ý định bán lại cho gia đình em để sử dụng hợp thức hóa sang đất ở. Luật sư cho em hỏi nếu mua như vậy có được không? và UBND xã bán như vậy có đúng thẩm quyền cho phép theo luật đất đai ban hành 2013 ?
Em xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Điều 59 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội:

"Điều 59. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức;

b) Giao đất đối với cơ sở tôn giáo;

c) Giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật này;

d) Cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 56 của Luật này;

đ) Cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;

b) Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

3. Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được ủy quyền."

Như vậy UBND cấp xã chỉ có thẩm quyền cho thuê đât thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng mục đích công ích xã, phường thị trấn, chứ không có thẩm quyền giao đất cho bạn. Tham khảo bài viết liên quan: Cho thuê lại đất và trình tự, thủ tục cho thuê lại đất ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Hợp đồng mua bán đất bằng giấy tờ tay liệu có hợp pháp không?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp: tôi có mua một miến đất 23 m2 với giá 10 triệu đồng vào năm 1998, giấy tờ giao kết bằng tay và có xác nhận của xã.
Vậy cho tôi hỏi hợp đồng mua đất đó tính đến nay có hợp pháp không? tôi phải làm những gì để làm sổ đỏ cho mảnh đất đó ?
Xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn về hợp đồng mua bán đất trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, trường hợp có một trong các loại giấy tờ sau đây thì người sử dụng đất sẽ được công nhận là có quyền sử dụng đất hợp pháp và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Theo đó , nếu bạn có mua một miến đất 23 m2 với giá 10 triệu đồng vào năm 1998, giấy tờ giao kết bằng tay và có xác nhận của xã thì các giấy tờ này có thể được xem xét công nhận trước pháp luật và bạn sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mảnh đất này theo quy định trên. Cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ tiến hành các điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với trường hợp của bạn. Nếu bạn đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo như quy định tại điều 101 như đã nêu trên, bạn có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Cụ thể,bạn cần tiến hành các thủ tục sau đây để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Bước 1: Bạn nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và các giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện có;

Bước 2: Văn phòng đăng ký đất đai thông báo bằng văn bản cho bên chuyển quyền và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển quyền. Trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương ba số liên tiếp (chi phí đăng tin do người đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trả);

Bước 3: Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp không nộp Giấy chứng nhận để làm thủ tục đồng thời cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mới cho bên nhận chuyển quyền.

Trường hợp có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định.

Bạn cần chú ý chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu như đã nêu trên để được cấp theo quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

3. Ủy ban nhân dân xã có quyền xác nhận giao dịch mua bán đất ?

Xin hỏi luật sư về việc của gia đình tôi như sau: Gia đình chúng tôi ở xã Sốp Cộp huyện Sốp cộp tỉnh sơn la, năm 2003 xã sốp cộp thuộc huyện sông mã sơn la gia đình tôi có mua mảnh đất ở xã sốp cộp khi chuyển nhượng có sự xác nhận của chính quyền địa phương (UBND xã) là đất không có tranh chấp.

Đất do một người địa phương bán cho khi mua có làm hồ sơ và nộp trước bạ cho tại đội thuế sông mã đến năm 2004 thành lập huyện sốp cộp khi chúng tôi dựng nhà UBND huyện không cho chúng tôi dựng nhà nói là đất quy hoạch đến nay khi làm dự án UBND huyện không thông báo cho các hộ gia đình có đất tại đó biết mà tự cho doanh nghiệp cho san lấp. Khi chúng tôi có đơn đề nghị UBND huyện ra quyết định thu hồi đất của các hộ chúng tôi, sau khi các hộ có đơn UBND huyện lại ra quyết định bãi bỏ quyết định thu hồi đất, cho kiểm tra và nói các hộ chuyển nhượng đất là trái pháp luật, xác định là đất nghĩa trang do các hộ lấn chiếm bán cho chúng tôi,lên không được đền bù theo quy định của pháp luật, chúng tôi có hỏi do trước đây đất nếu như việc chuyển nhượng giữa các hộ chúng tôi là trái phép sao chính quyền địa phương lại xác nhận việc chuyển nhượng cho chúng tôi, và yêu cầu làm trước bạ nộp thuế việc chuyển nhượng của các hộ chúng tôi có xác nhận của cán bộ địa chính xã, là đất không có tranh chấp sự việc như trên chúng tôi xin hỏi luật sư khi nhà nước thu hồi đất chúng tôi hoàn toàn nhất trí nhưng chúng tôi có được bồi thường hay không? chúng tôi được hưởng những quyền lợi gì khi nhà nước thu hồi đất?

Rất mong luật sư trả lời giúp chúng tôi. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: Bích Ngọc

Ủy ban nhân dân xã có quyền xác nhận giao dịch mua bán đất ?

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp khi thu hồi đất gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 có quy định về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực.

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

Bởi vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của gia đình bạn hoàn toàn đúng pháp luật vì đã được chứng thực tại Ủy bạn nhân dân xã, phường.

2. Trường hợp gia đình bạn bị thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an nình.

Trường hợp gia đình bạn có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp, gia đình bạn đăp ứng điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì gia đình bạn sẽ được bồi thường theo quy định tại Điều 74 Luật đất đai 2013.

Điều 74 có quy định về nguyên tắc về đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

4. Làm giả giấy tờ để hợp thức hóa hồ sơ bán đất sẽ bị xử lý như thế nào?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Qua bài báo này và đồng thời qua những giấy tờ như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 2 tờ quyết định đình chỉ của 2 cấp tòa sơ thẩm Thanh Oai và phúc thẩm tp. Hà Nội.
Mà bà Nguyễn Thị Khanh và ông Nguyễn Văn Bắc làm giả giấy tờ để hợp thức hóa hồ sơ bán đất nhà chị Giang, anh Thắng. Bà Khanh, ông Bắc làm như vậy có đúng pháp luật hay không? Còn gia đình anh Thắng, chị Giang phải làm như thế nào để lấy lại được phần đất đó mà bố đẻ anh Thắng để lại?
Vậy kính mong văn phòng luật tư vấn và giúp đỡ tôi. Tôi xin chân thành cám ơn!
Người gửi: Ngân

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Thứ nhất về vấn đề Bà Khanh, ông Bắc làm như vậy có đúng pháp luật hay không?

Căn cứ Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017

Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;

d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

....

Như vậy dấu hiệu khách quan của Điều 341 được quy định như sau:

•Về hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức cũng tương tự như đối với tội sản xuất hàng giả quy định tại Bộ luật hình sự, chỉ khác ở chỗ vật “hàng” được làm ra không phải là “hàng hoá” mà là con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ. Vì vậy, khi xác định con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức có bị làm giả hay không phải căn cứ vào con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức là con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ có thật, nếu cơ quan tổ chức không có con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ đó thì cũng không thể coi hành vi làm con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ là hành vi làm giả được, vì không có thật thì cũng không có giả.

•Về hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân cũng tương tự như đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự chỉ khác ở chỗ người có hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân không nhằm chiếm đoạt tài sản mà nhằm mục đích khác như: dùng bằng tốt nghiệp giả để xin việc, để được bổ nhiệm, để tăng lương, để được đi lao động ở nước ngoàI; làm giả sổ hộ khẩu để được mua nhà ở thành phố, để được giao đất trồng trồng rừng.

Do đó căn cứ vào hành vi trên bà Khanh, ông Bắc làm giả giấy tờ của cơ quan có thẩm quyền để nhằm mục đích hợp thức hóa việc bán đất trước cơ quan có thẩm quyền là hành vi có yếu tố cấu thành tội quy định tại Điều 267 BLHS. Do đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Điều 341 BLHS.

2. Thứ hai về vấn đề gia đình anh Thắng, chị Giang phải làm như thế nào để lấy lại được phần đất đó mà bố đẻ anh Thắng để lại?

Căn cứ Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định:

Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú.

Căn cứ Điều 145 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015:

Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

Như vậy gia đình làm đơn tố giác hành vi phạm tội của hai cá nhân nêu trên tại cơ quan điều tra cấp huyện nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi phát hiện tội phạm hoặc nơi cư trú của họ.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

5. Xử lý công bằng trong trường hợp gian dối trong mua bán đất ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê. Tôi mua của bà H một lô đất thuộc tỉnh B qua giới thiệu của ông T chủ nhà bên cạnh lô đất mà bà H giao bán, vì bà H có nhờ ông T và cho ông số điện thoại nếu ai hỏi mua đất bên cạnh nhà ông thì cho số điện thoại để khách hàng liên hệ trực tiếp với bà H thỏa thuận mua bán.
Ngày 13/5/2016 tôi đã liên lạc với bà H hỏi mua lô đất đó và bà H đã hẹn gặp tôi tại hiện trường của lô đất bên cạnh nhà ông T và nói muốn bán lô đất này với giá 1.150.000.000đ ( Một tỷ, một trăm, năm mươi triệu), lô đất có số 151 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi đã đồng ý mua và đặt cọc trước 50.000.000đ ( Năm Mươi triệu đồng ) theo đề nghị của bà H. Ngày 16/5/2016 tôi và bà H đã đến văn phòng công chứng Thiên Long làm hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất và được công chứng tại đây. Sau khi làm thủ tục hợp đồng chuyển nhượng, công chứng song, tôi đã chuyển nốt số tiền còn lại cho bà H theo số tài khoản ghi trong hợp đồng, số tiền là 1.100.000.000đ (Một tỷ một trăm triệu đồng). Hợp đồng mua bán xong tôi đi làm cấp phép thi công xây dựng và được phòng Quản lý đô thị thành phố xuống giao đất thi công và giao cho tôi lô đất không phải lô đất mà bà H chỉ cho tôi ở hiện trường bên cạnh nhà ông T, mà là lô đất cách đó 8m ( tương đương cách 2 lô khác) mới là lô số 151, lô đất này có đường chính diện đâm vào nhà. Từ những sự việc trên, có thể khẳng định bà H đã gian dối khi chỉ cho tôi lô đất số 148 bên cạnh nhà ông T lại nói đây là lô đất số 151 của mình. Sau khi xẩy ra những sự việc trên bà H đã gặp chồng tôi để thương lượng giải quyết và đã trả lại cho chồng tôi 120.000.000 ( Một trăm hai mươi triệu đồng ) và chồng tôi đã viết giấy cam kết không kiện bà H nữa. Sự việc thỏa thuận này chỉ có chồng tôi và bà H, tôi không đồng ý vì sự thiệt thòi đến với gia đình tôi là rất lớn, lô đất này hiện tại bán đi giá khoảng 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng chẵn). Tôi đã đòi bà H phải chả thêm tiền cho tôi nhưng bà không nghe vì lý do là chồng tôi đã nhận tiền và cam kết không kiện rồi ( cam kết chỉ một chồng tôi ký). Vậy thưa luật sư tôi có kiện được bà H không và tôi phải làm gì bây giờ ?
Rất mong được sự tư vấn sớm nhất của luật sư. Xin chân thành cảm ơn!
* Những cơ sở pháp lý tôi có Họ và tên người làm chứng N.V.T.
Những tài liệu, chứng kèm theo đơn khởi kiện gồm có:
1/ Hợp Đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ( Bản sao công chứng ).
2/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( Bản sao công chứng ).
3/ Hộ khẩu thường trú ( Bản sao công chứng ).
4/ Chứng minh nhân dân ( Bản sao công chứng ).
5/ Đĩa CD ghi âm bà H công nhận đã chỉ sai lô đất ( Bản sao từ ghi âm điện thoại ).
6/ Giấy đặt cọc ( Bản sao công chứng ).
7/ Hóa đơn chuyển tiền của ngân hàng vào tài khoản của bà H ( Bản sao công chứng ).

Luật sư phân tích:

Căn cứ Điều 52 Luật công chứng năm 2014:

"Điều 52. Người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật."

Tức là, trong trường hợp này bạn chứng minh được sự vô hiệu của hợp đồng chuyển nhượng do bị lừa dối theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 thì bạn được đề nghị toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đó là vô hiệu:

"Điều 127: Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép:

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình."

Điều 131: Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu :

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định."

Căn cứ vào điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu, bà A phải hoàn lại số tiền đã nhận của bạn,bạn trả lại đất cho bà A. Ngoài ra bà A phải bồi thường thêm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm bán so với thời điểm toà xét xử. Khoản tiền đó sẽ được toà án quy định dựa trên mức định giá đất của UBND tỉnh B so với giá đất thị trường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp Luật đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất