NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh mới trong những năm 1980

Trong những nãm 1980, sau khi nhiều nhà kinh tế” đã có đóng góp về tầm quan trọng của tiến bộ công nghệ đối vdi tăng trưởng kinh tế, những lý thuyết tăng trưởng mới, cũng còn được gọi là lý thuyết tãng trưởng nội sinh mói, đã xuất hiện, trình bày sự tiến bộ công nghệ như là một biến số nội sinh có thể bị ảnh hưởng bởi chính sách của chính phủ. Các lý thuyết này gợi ý rằng tỷ lệ tăng trưởng dài hạn của một đất nưóc có thể bị ảnh hưởng bởi những chính sách của chính phủ, trong đó có chính sách về bão hộ sở hữu trí tuệ, thuế, duy trì luật pháp và trật tự cũng như chính sách về tài chính, tiền tệ.

Paul Romer đã giói thiệu một mô hình gợi ý ràng sự tích luỹ tri thức là động lực cho tăng trưởng kinh tế. Bài viết của Romer đã mở ra một lẩn nữa cuộc tranh luận vể sự đóng góp của tiến bộ công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia-dân tộc. Mô hình của Ông chấp nhận một môi trưởng cạnh tranh có đặc quyển và gợi ý rằng hoạt động R&D cũng như sự tích luỹ nguồn vốn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự tăng trưởng thu nhập theo đầu người ô tầm dài hạn. Giống như Solow, Romer cũng tập trung chú ý đến lao động, vốn, công nghệ và đầu ra cũng như đến vấn đề ba yếu tố đầu kết hợp như thế nào trong một khoảng thời gian để tạo thành đầu ra. Trong một nỗ lực nhàm loại bỏ nghịch lý nhận thấy từ mô hình Solow về việc các nưóc đang phát triển không có khả năng sử dụng ưu điểm của tiến bộ công nghệ đang có, Romer già định ràng tiến bộ công nghệ trong công nghiệp đòi hỏi hoạt động phối hợp, hướng tới lợi nhuận tạo ra hai bộ phận riêng biệt: (a) những đặc trưng kỹ thuật cụ thể được sáp nhập vào những sản phẩm có khả năng nhận bằng độc quyền sáng chế và đưa vào sân xuất, trong khi loại trừ các hãng đối thủ ra khỏi hoạt động đó; (b) sự giác ngộ ràng các đặc trưng nói trên về cơ bản là sàn phẩm công cộng. Để khuyến khích mọi ngưòi và tổ chức tham gia tạo ra tri thức, nguyên tắc về khà nàng loại trừ phải được viện dẫn. Ông lập luận rằng có hai cách dể loại trừ được những ngưòi khác: thứ nhất là giữ bí mật tri thức và thứ hai là viện dẫn pháp luật có hiệu lực về sở hữu trí tuệ.

Romer kết luận ràng để thúc đẩy sự tăng trưởng, chính sách kinh tế của các nưóc cần khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu mới, ngược lại với khuyến khích đầu tư vào tích luỹ vốn vật chất, và tài trợ cho tích luỹ tổng nguồn vốn nhân lực, bởi vì mức độ nguồn vốn nhân lực của một nước càng cao thì nâng suất càng cao mà năng xuất cao chuyển đổi thành tâng trưởng kinh tê' bền vững.

Grossman và Helpman dẫn ra những nghiên cứu do nhiêu ngành công nghiệp thực hiện, bao gồm máy công cụ, hàng không, hoá tổng hợp, luyện kim và bán dẫn, những nghiên cứu đó đã cho thấy động lực thúc đẩy đầu tư vào công nghệ mói là tiềm nâng thu lợi nhuận. Các Ông lập luận ràng trong số các yếu tố xác định khả nâng lợi nhuận của việc đẩu tư nói trên, mà qua đó ảnh hưởng tới nhịp điệu và phương hưdng thay đổi của công nghệ, có các yếu tố về môi trường tổ chức, pháp lý và kinh tế. Tới nay nhiều mô hình tăng trưởng nội sinh đã dược giổi thiệu và cuộc tranh luận về mối liên quan của lý thuyết tâng trưởng ngoại sinh hoặc nội sinh tói việc giãi thích các yếu tố xác định sự tăng trưởng của các nưdc vẫn chưa hề kết thúc.

2. Sự thức tỉnh toàn cầu về vai trò của sở hữu trí tuệ trong những năm 1990

Nhìn lại các thành tựu kinh tế mà một số nước có nền kinh tế mạnh đã đạt được trong những nãm 1990 ta thấy, thứ nhất, đã có những thay đổi về chính sách nãy sinh từ việc tri thức được sáng tạo một cách nhanh chóng cũng như từ việc lựa chọn những phương thức quàn lý mới đối vói tri thức, thứ hai, có những thay đổi mà nguyên nhân là sự xuất hiện của những công nghệ mói.

Một trong các hệ quả của mô hình mới trong nền thương mại toàn cầu được khởi động từ đầu những năm 1990 là sự hình thành một cách có chủ đích của mối quan hệ giữa pháp luật về thương mại và chính sách về SHTT khi mà một số nước đi trước bát đẩu "sử dụng biện pháp thương mại để kiềm chế nạn chiếm đoạt quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài". Cùng với những việc làm khác, việc làm này đã dân tới chỗ Hiệp định TRIPS được đưa vào làm một trong các hiệp định thuộc khuôn khổ đàm phán thương mại đa phương tại Vòng đàm phán Uruguay. Hiệp định này thiết lập các chuẩn mực mang tính toàn cầu cho bão hộ SHTT có hiệu lực ràng buộc đối với cả các nước phát triển và đang phát triển, bao gồm thực thi và biện pháp tại biên giói.

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ mói đã dẫn đến việc thích nghi vói những chế độ SHTT đang thịnh hành và trong một số trường hợp là sự phê phán chúng. Cuộc cách mạng công nghệ toàn diện này đụng chạm đến nhiều lĩnh vực, trong đó có công nghệ thông tin và liên lạc, nghiên cứu y sinh học và phát triển dược phẩm mói, công nghệ số, vật liệu hiệu suất cao, trí khôn nhân tạo và thương mại ảo trên mạng. Việc làm cho bão hộ SHTT thích nghi vói công nghệ sinh học và đặc biệt là bảo hộ sở hữu trí tuệ trên mạng đã đặt ra nhiều thách thức lớn.

Trong trường hợp đặc biệt của công nghệ sinh học, sự xuất hiện của những công cụ nghiên cứu mói trong kỹ thuật gen đã có tác động mạnh đến nông nghiệp và những chương trình nghiên cứu công nghệ sinh học. Trong nông nghiệp, sự liên quan của SHTT từ xưa tói nay còn hạn chế, bởi vì hầu như mọi hoạt động R&D đều do các tổ chức thuộc khu vực công thực hiện. Tuy nhiên, công nghệ sinh học đang ngày càng được thúc đẩy nhiều hơn bởi khu vực tư nhân và ngày càng dựa vào SHTT nhiều hơn. Mức độ phức tạp được tãng thêm do việc sử dụng nhiều loại vật liệu nghiên cứu sinh học hoặc nghiên cứu gen từ thế giói đang phát triển giầu có về nguồn gen.

Việc sử dụng kết hợp của công nghệ máy tính và viễn thông như được thể hiện qua Internet đang đặt ra hàng loạt vấn đề khác đối vói các hệ thống SHTT Với một vài phím bấm ngươi ta có thể không cẩn xưng danh mà vẫn tải được những tư liệu có quyền tác giả từ những website trên khắp thế giới xuống. Thêm nữa, phạm vi và mức độ trách nhiệm giữa những người cung cấp thông tin trên Internet và người nắm giữ quyền đối vói nội dung cần được hiểu rõ hơn.

Các diễn biến trên đây chỉ là một ví dụ về vấn để hệ thống SHTT đang hội nhập như thế nào vào nền kinh tế tri thức và đặt ra những thách thức đáng chú ý như thế nào đối vói ngành công nghiệp, các nhà hoạch định chính sách của chính phủ, học giả và nhà nghiên cứu ở cà các nưóc phát triển và đang phát triển.

3. Số liệu thống kê gợi ý về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, R&D và sở hữu trí tuệ (SHTT)

3.1 Khái quát chung

Một số số liệu thống kê xác nhận mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, R&D và SHTT Như đã thào luận ở trên, các nhà kinh tế giải thích quá trình tăng trưởng kinh tế như là quá trình được thúc đẩy bởi hai nguồn chính: cung cấp các yếu tố sàn xuất, nói cụ thể là vốn vật chất và lao động (hoặc vốn nhân lực) và công nghệ. Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra ràng các sức mạnh ảnh hưởng làm cơ sở cho hiệu suất của nền kinh tế chịu tác động của sự tương tác giữa hai nguồn tăng trưởng và tỷ lệ tương đối của vốn vật chất, lao động và công nghệ.

Người ta mặc nhiên thừa nhận ràng SHTT ảnh hưởng một cách đáng kể đến sự đánh giá vể giá trị và sự tích luỹ về số lượng của vốn nhân lực cũng như đến tốc độ và xu hướng thay đổi công nghệ. Các tài liệu mới đây cũng trình bầy những quan điềm mói xuất hiện đối với bào hộ SHTT ở cà các nước phát triển và đang phát triển - ví dụ, sự tăng trưởng trong nộp đơn yêu cầu cấp bàng độc quyên sáng chế và sự tăng trưởng trong hoạt động tri thức đi cùng với nhau như thế nào, thậm chí cà vấn đề các số liệu thống kê liên quan đến bàng độc quyền sáng chế có thể đóng vai trò chỉ dẫn về sức mạnh hoặc tình trạng yếu kém của một nền kinh tế như thế nào.

3.2 Bảng về sự tăng trưởng của bằng độc quyền sáng chế Hoa Kỳ phân theo ngành từ năm 1982 đến 1996

Số lượng bằng độc quyền sáng chế trong năm

Tỷ lệ tăng trưởng

1982

1996

Vật liệu tiên tiến

250

1.200

333 %

Công nghệ thông tin

4.000

16.000

305 %

Ytế

2.000

4.700

189%

Ô tô

1.300

2.700

105%

Tổng số bằng độc quyền sáng chế Hoa Kỳ

58.000

110.000

89%

Trong những năm 1990, ngày càng nhiều nhà hoạch định chính sách ở những nưóc có nền kinh tế đang nổi lên thừa nhận hệ thống SHTT đóng vai trò một yếu tố quan trọng kết cấu hạ tầng về thể chế đối với việc khuyến khích đầu tư tư nhân trong R&D, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghiệp và khoa học. Điều này được xác nhận bởi mô hình đầu tư cho R&D của doanh nghiệp trong các nưóc thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), ví dụ mô hình đó gợi ý ràng có một mối tương quan mạnh mẽ giữa mức chi tiêu cho R&D và mức độ hoạt động cấp bàng độc quyền sáng chế .

Sự ảnh hưởng của SHTT cũng được phân ánh qua đóng góp ngày càng tăng của các ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều tri thức cho tổng sàn phẩm quốc gia (GNP) (ví dụ, ở Hợp chủng quốc Hoa kỳ, mức đóng góp nói trên đã tăng từ 21% năm 1982 lên 27% 1995). Trong những năm 1990, sự mở rộng nhanh chóng của một hệ thống thương mại toàn cầu sau việc thành lập Tổ chức thương mại thế giói (WTO) cũng đã gây ra sự chú ý và yêu cầu ngày càng tăng đối vói bảo hộ SHTT đặc biệt là trong công nghệ cao và những ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều tri thức khác.

Xu hưóng các hãng yêu cầu cấp bàng độc quyền sáng chế cho các sáng chế của mình đã tăng lên tương tự ở quy mô thế giói. Lượng đơn yêu cầu cấp và số bàng độc quyền sáng chế cấp ra đã tăng cà ở các nước đang phát triển nơi mà từ trước đến nay mức độ nộp đơn yêu cầu cấp bàng độc quyền sáng chế rất thấp

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê