1.Tổ chức phi chính phủ là gì?

Tổ chức phi chính phủ (tiếng Anh: Non-Governmental Organization) gọi tắt là NGO, đề cập đến các tổ chức tư nhân, phi lợi nhuận hoạt động ngoài sự kiểm soát của chính phủ. Hay nói cách khác là một tổ chức độc lập, không thuộc về bất cứ chính phủ nào. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) chủ yếu dựa vào tình nguyện viên, trong khi những tổ chức khác hỗ trợ đội ngũ nhân viên được trả lương.

Các tổ chức phi chính phủ được thành lập với nhiều mục đích. Các mục đích này bao trùm nhiều khía cạnh chính trị - xã hội, triết lý, nhân văn... Một trong số các mục đích quan trọng nhất của NGOs là đẩy mạnh các mục tiêu chính trị - xã hội như khuyến khích việc tôn trọng các quyền con người (Amnesty International); bảo vệ môi trường thiên nhiên (Greenpeace); cải thiện phúc lợi cho những người bị thiệt thòi như quyền phụ nữ, quyền trẻ em , phát triển kinh tế, vận động bảo vệ môi trường, chuẩn bị cho thiên tai... Một số tổ chức phi chính phủ nổi tiếng nhất trên Thế giới như: Greenpeace, Amnesty International, International Rescue Committee, Bill & Melinda Gates Foundation, Mercy Corps…

Các tổ chức phi chính phủ được tài trợ chủ yếu thông qua các khoản tài trợ, cho vay, hội phí thành viên và các khoản đóng góp tư nhân. NGOs cũng có thể nhận được tài trợ từ các tổ chức chính phủ mà không bị mất tư cách tổ chức phi chính phủ. Mặc dù một số tổ chức phi chính phủ phụ thuộc vào loại tài trợ này, tuy nhiên các chính phủ không thể tham gia vào các quyết định hoặc giám sát những gì tổ chức phi chính phủ thực hiện.

2. Thỏa thuận trọng tài là gì?

Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên mà chỉ được giải quyết tranh chấp khi các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan thỏa thuận chỉ định. Khi các bên thiết lập một thỏa thuận trọng tài thì nghĩa là họ đã trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho trọng tài và tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc bị hủy bỏ bởi chính các bên. Như vậy, thẩm quyền của trọng tài được xác lập trên cơ sở thỏa thuận trọng tài.

Luật Mẫu UNCITRAL  về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1985 định nghĩa thỏa thuận trọng tài tại Khoản 1, Điều 7 như sau: “1. “Thỏa thuận trọng tài” là thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng. Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng”.

Từ quy định trên, có thể thấy thỏa thuận trọng tài là sự thống nhất ý chí của các bên về việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng bằng phương thức trọng tài. Thỏa thuận này có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp và có thể dưới hình thức một điều khoản trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận trọng tài riêng biệt.

Hay Công ước châu Âu về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1961 có đưa ra định nghĩa tương tự: “Thỏa thuận trọng tài là một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc thỏa thuận trọng tài, hợp đồng hoặc thoả thuận trọng tài được ký kết giữa các bên, hoặc được trao đổi qua thư từ, điện tín, hoặc các hình thức liên lạc bằng điện toán khác, và trong mối quan hệ giữa các quốc gia mà pháp luật không yêu cầu rằng một thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, bất kỳ thỏa thuận trọng tài nào cũng phải được ký kết theo đúng hình thức mà luật các nước này quy định”

Xem xét Luật Trọng tài thương mại Việt Nam 2010 tại Khoản 2 điều 3 đưa ra:

“2. Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.”

Đây là một định nghĩa tương đối đơn giản, khái quát, từ đây có thể hiểu đơn giản : thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận của các bên về một phương thức giải quyết các tranh chấp, có thể có trước hoặc sau khi tranh chấp xảy ra.

3. Vai trò của trọng tài phi chính phủ

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp trong sản xuất, kinh doanh cho thấy các nhà sản xuất kinh doanh dù hoạt động trong phạm vi quốc gia hay trên phạm vi quốc tế đều mong muốn ngăn chặn sự phát sinh các tranh chấp; nếu tranh chấp xảy ra thì mong muốh hoà giải với nhau; nếu không hoà giải được với nhau thì tránh việc đưa tranh chấp ra trước toà 

án mà thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ’.

Vấn đề cần lý giải ỏ đây là tại sao các nhà kinh doanh đều mong muốn, các luật gia hoàn toàn ủng hộ, còn các quốc gia thì chấp nhận cho phép các bên đương sự không dùng toà án quốc gia mà thoả thuận dùng trọng tài để giải quyết các tranh chấp dân sự phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Lý do chính là giải quyết các tranh chấp phát sinh trong sản xuất kinh doanh bằng trọng tài có nhiều ưu thế hơn so với việc giải quyết bằng toà án.

Các ưu thế của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với toà án thể hiện ngay ở các yếu điểm của việc giải quyết các tranh chấp bằng toà án như sau:

- Giải quyết tranh chấp bằng toà án phải tuân theo các thủ tục rất phức tạp, phải qua rất nhiều bưóc mất thời gian như xử sơ thẩm, xử phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm; thời gian xử đã dài lại phải dành thời gian cho kháng cáo, kháng nghị, v.v... Tình trạng này không giúp cho các nhà kinh doanh thu hồi nhanh vốn để thanh toán nợ nần, để quay vòng nhằm thu lợi nhuận.

- Vì mất nhiều thời gian cho các thủ tục Toà án nên đương nhiên tốn nhiều sức lực, tiền của và không có điều kiện tập trung nhanh chóng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.

- Việc xét xử của toà án thông thường phải công khai, cho nên không thể bảo đảm bí mật kinh doanh của các đương sự.

- Việc giải quyết tranh chấp bằng toà án, về nguyên tắc, phải bảo đảm thẩm phán độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, nhưng trong thực tiễn các thẩm phán phải chịu tác động rất nhiều của'các yếu tố quyền lực chính trị.

Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoàn toàn khắc phục được các yếu điểm nêu trên của việc giải quyêt tranh chấp bằng toà án. Cụ thể là giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành nhanh gọn, mềm dẻo, linh hoạt, theo thủ tục đơn giản. Quyết định của trọng tài là quyêt định chung thẩm, tức là không có kháng cáo, kháng nghị. Trọng tài xét xử không công khai, quyết định của trọng tài chỉ được thông báo rộng rãi khi được các bên đương sự đồng ý. Trọng tài không bị chi phối bởi yếu tố quyền lực chính trị. Nhờ đó, các đương sự đỡ tốn kém hơn, góp phần nhanh chóng tạo sự ổn định và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giúp cho đương sự giữ bí mật kinh doanh, giữ uy tín trong kinh doanh.

Do các bên có quyền thoả thuận chọn hoặc tự chọn trọng tài viên, chọn người mình mong muốn làm trọng tài viên, và nếu là trọng tài ad hoc thì còn có quyền thoả thuận về cả quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp với quy định của pháp luật, cho nên đương sự tác động được vào quá trình giải quyết tranh chấp nhằm bảo đảm cho việc giải quyết tranh chấp phản ánh khách quan và đầy đủ quyền lợi của mỗi bên đương sự. Đội ngũ trọng tài viên gồm những chuyên gia giỏi về pháp luật và nghiệp vụ, am hiểu lĩnh vực kinh doanh cụ thể càng làm cho việc giải quyết tranh chấp được khách quan hơn.

Tóm lại, Trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp rất ưa dùng đối với cậc nhà sảh xuất, kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, thương mại quốc tế. Trọng tài góp phần giải quyết nhanh gọn và hiệu quả các tranh chấp nhằm ổn định và thúc đẩy sản xuất kinh doanh trong từng nước và cả trên phạm vi quốc tế. ở nước ta, việc mở rộng khả năng, cơ hội cho các nhà sản xuất, kinh doanh sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp sẽ góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc tế, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư nưốc ngoài, đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội.

4.Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài

Thỏa thuận trọng tài ý nghĩa rất quan trọng:

Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài là cơ sở để tranh chấp được giải quyết bằng con đường trọng tài. Thỏa thuận giữa các bên là điều kiện tiên quyết để làm phát sinh thẩm quyền trọng tài. 

Thứ hai, thỏa thuận trọng tài cho phép loại trừ thầm quyền của Tòa án. Pháp luật Việt Nam cũng như nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới ghi nhận nguyên tắc, khi các bên có thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì Tòa án không có thẩm quyền xét xử và thẩm quyền này thuộc trọng tài mà các bên đã lựa chọn.

 Thứ ba, việc tự do thỏa thuận lựa chọn các yếu tố trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hình thành những điều kiện tốt nhất để tiến hành hoạt động trọng tài và việc thi hành phán quyết trọng tài được thuận lợi.

Thứ tư, thỏa thuận trọng tài là điểm chốt trong việc xác định thẩm quyền của trọng tài bởi vì không có thỏa thuận trọng tài thì không thể có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

5.Bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ của các bên trong thỏa thuận trọng tài

Trong tố tụng trọng tài, các bên được đảm bảo các bên tranh chấp đều bình đằng về quyền và nghĩa vụ.Trước tiên, các bên có thể thỏa thuận tự lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào hoặc tự thành lập Hội đồng trọng tài giải quyết các tranh chấp của mình. Khi đã lựa chọn được hình thức trọng tài, các bên có quyền chỉ định trọng tài viên mà mình tin tưởng đồng thời các bên cũng có thể thỏa thuận cả thời gian giải quyết tranh chấp, tức là các bên quyết định khi nào tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp. Hội đồng trọng tài phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, chỉ khi không có thỏa thuận của các bên về thời gian tổ chức phiên họp thì Chủ tịch Hội đồng trọng tài mới có quyền quyết định. Thường thì vào thời điểm Hội đồng trọng tài cho rằng các thông tin cũng như căn cứ liên quan đến tranh chấp được thu thập đầy đủ đảm bảo cho một phán quyết đưa ra, phiên họp sẽ được mở. Việc mở phiên xét xử sẽ được tiến hành tại địa điểm do các bên lựa chọn.

Bên cạnh đó, các bên cũng được phép thỏa thuận ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài. Đây là nội dung thể hiện quyền được lắng nghe và quyền được trình bày của các bên tham gia. Ngôn ngữ được sử dụng phải phù hợp với tư duy và nhận thức của các bên về vấn đề được tranh luận, thiếu điều này đồng nghĩa với việc một bên hoặc các bên đã bị tước đi quyền được lắng nghe và trình bày. Một quy định tương tự tương tự cũng được ghi nhận trong Quy tắc trọng tài VIAC như sau: “Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài các bên có quyền thỏa thuận về ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài. Nếu các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt.Các bên có thể yêu cầu trung tâm cung cấp phiên dịch và phải trả chi phí dịch vụ”.

 Pháp luật Việt Nam  không cho phép các bên toàn quyền lựa chọn pháp luật áp dụng đối với các tranh chấp. Pháp luật quy định quyền của các bên trên cơ sở có sự phân biệt giữa tranh chấp trong nước và tranh chấp có yếu tố nước ngoài: Đối với các tranh chấp giữa các bên Việt Nam, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật nội dung và pháp luật hình thức của Việt Nam để giải quyết tranh chấp. Việc các bên lựa chọn pháp luật nước ngoài sẽ không được Hội đồng trọng tài chấp nhận. Quy định này là một sự hạn chế so với quy định trọng tài của pháp luật nhiều nước. Tuy nhiên quy định này được coi là phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay.

Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn. Song việc lựa chọn pháp luật nước ngoài không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp các bên không lựa chọn được pháp luật để giải quyết vụ tranh chấp thì Hội đồng trọng tài quyết định.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng hạn chế quyền tự do lựa chọn pháp luật về tố tụng trọng tài của các bên tranh chấp là tổ chức, cá nhân Việt Nam. Các bên có quyền lựa chọn trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài do các bên thành lập để giải quyết tranh chấp theo quy định về tố tụng trọng tài. Như vậy, trong mọi trường hợp, việc tiến hành trọng tài trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Do đó, có thể khẳng định quy định này đã hạn chế quyền tự do lựa chọn thủ tục tố tụng trọng tài so với nhiều nước trên thế giới. 

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)