- 1. Vai trò của tư vấn pháp luật là gì?
- 2. Ý nghĩa của việc lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật vào hoạt động tư vấn pháp luật.
- 2.1 Tư vấn pháp luật và phổ biến, giáo dục pháp luật.
- 2.2 Ý nghĩa của việc thực hiện lồng ghép.
- 2.3 Những hạn chế còn tồn tại.
- 2.4 Biện pháp nâng cao hiệu quả lồng ghép phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật
1. Vai trò của tư vấn pháp luật là gì?
Tư vấn pháp luật có những vai trò sau đây:
- Góp phần phổ biến giáo dục pháp luật từ đó giúp định hướng hành vi ứng xử của cá nhân, tổ chức theo khuôn khổ pháp luật và quy tắc đúng đắn.
- Tư vấn pháp luật góp phần giảm nhẹ sự căng thẳng cho các cơ quan tố tụng, tránh được sự quá tải trong tố tụng.
- Góp phần hoàn thiện pháp luật và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức.
2. Ý nghĩa của việc lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật vào hoạt động tư vấn pháp luật.
2.1 Tư vấn pháp luật và phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tư vấn pháp luật cung cấp cho cá nhân, tổ chức những hiểu biết pháp luật ở mức cơ bản, phổ thông về một vấn đề nhất định, giúp họ hiểu rõ vị thế, quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong một quan hệ pháp luật cụ thể nảy sinh trong đời sống xã hội. Kết quả của hoạt động tư vấn pháp luật là lời khuyên, ý kiến pháp lý bằng miệng hoặc có thể bằng văn bản. Hiểu theo nghĩa rộng, đó là những giải pháp cụ thể, hữu ích giúp đối tượng được tư vấn bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Ý nghĩa xã hội của tư vấn pháp luật khá sâu rộng ở chỗ, giúp định hướng hành vi ứng xử của các cá nhân, tổ chức theo khuôn khổ pháp luật và quy tắc đạo đức. Đồng thời, nó giúp hòa giải hoặc giải quyết theo một trình tự phù hợp các mâu thuẫn, xung đột liên quan đến quyền, lợi ích, góp phần giảm thiểu các tranh chấp, giảm bớt tình trạng khiếu kiện tràn lan, kéo dài do người dân hiểu pháp luật không đúng hoặc không đầy đủ. Hoạt động tư vấn pháp luật còn góp phần giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, của tổ chức và công dân; phát hiện những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật và kiến nghị sửa đổi, bổ sung, kịp thời hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.
Qua khảo sát thực tế cho thấy, khi có nhu cầu về giải đáp pháp luật, tháo gỡ vướng mắc pháp lý, người dân đã tin cậy và thường xuyên tìm đến các tổ chức giúp đỡ pháp lý sau đây: Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước, Trung tâm tư vấn pháp luật, Văn phòng luật sư. Bên cạnh các Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước với đối tượng phục vụ còn hẹp, người dân thường yên tâm hơn khi tìm đến Trung tâm tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp. Bởi lẽ, đây là cơ sở tư vấn pháp luật trực thuộc các tổ chức đoàn thể của họ, là nơi họ có thể trình bày tường tận hoàn cảnh, tâm tư, nguyện vọng của mình, tin tưởng vào chính sách của tổ chức cũng như mong được đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ dù là thành viên hoặc không phải là thành viên của tổ chức.
Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động tư vấn pháp luật, mối liên hệ giữa tư vấn pháp luật với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được hình thành hết sức tự nhiên và gắn bó với nhau khá chặt chẽ. Tư vấn pháp luật là quá trình phổ biến pháp luật.Thông qua quá trình thực hiện các công việc cụ thể của hoạt động tư vấn pháp luật (cung cấp thông tin, giải đáp pháp luật cho cá nhân, tổ chức …), thì các mục đích và nội dung chính của phổ biến, giáo dục pháp luật đồng thời cũng được triển khai, lồng ghép, cụ thể là:
– Cung cấp thông tin, văn bản pháp luật, tài liệu pháp lý cho cá nhân, tổ chức: Trước khi đưa ra một lời khuyên hay các giải pháp để khách hàng lựa chọn, người tư vấn thường phải đưa ra những thông tin pháp lý cơ bản, văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh về vấn đề đó hoặc nội dung chính sách, pháp luật khác có liên quan nhiều nhất. Nhờ vậy, đối tượng đến yêu cầu tư vấn không chỉ hiểu được cụ thể chính sách, quy định pháp luật về chính vấn đề mình cần mà còn có thể tham khảo thông tin liên quan một cách tổng thể, đôi khi rộng hơn hoặc sâu hơn về vấn đề mình cần tìm hiểu.
– Giải đáp pháp luật cho cá nhân, tổ chức giúp cho đối tượng được tư vấn hiểu về quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong các quan hệ pháp luật trên cơ sở quy định của pháp luật: Việc tư vấn thường đòi hỏi phải đặt ra các câu hỏi và trả lời từng câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề cần giải quyết. Vì vậy, người tư vấn cũng phải đưa ra lời giải thích, giải đáp cặn kẽ, bám sát vào tình huống thực tế để phân tích giúp cho khách hàng hiểu rõ hơn vấn đề của mình trên cơ sở các quy định của pháp luật.
– Hướng dẫn cho các đối tượng ứng xử đúng pháp luật trong từng hoàn cảnh cụ thể để thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình: Đây là hoạt động mang lại kết quả trực tiếp, dễ nhận thấy và đánh giá sau một quá trình tư vấn, tuyên truyền pháp luật. Điều quan trọng nhất là giúp đối tượng được tư vấn pháp luật hiểu rõ hoàn cảnh, vị thế của mình, từ đó lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
– Giúp cho họ nâng cao hiểu biết pháp luật thông qua nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử, hình thành và phát huy ý thức tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật: Hệ quả của quá trình tư vấn, truyên truyền pháp luật là sự chuyển biến trong nhận thức, hiểu biết của từng cá nhân, hoặc một nhóm người, từ đó hình thành thái độ xử sự tích cực, tôn trọng và tuân thủ pháp luật trong các quan hệ đời sống xã hội hoặc có sự phản kháng, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật. Một cá nhân hoặc tổ chức khi đã được tư vấn, phổ biến pháp luật chắc chắn sẽ có hiểu biết ở mức độ nhất định và hành vi ứng xử khác với trước đó.
2.2 Ý nghĩa của việc thực hiện lồng ghép.
Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật sẽ góp phần tăng thêm hiệu quả, ý nghĩa xã hội của hoạt động tư vấn pháp luật. Bởi vì, khi đó tư vấn pháp luật không chỉ phục vụ một người mà là phục vụ nhiều người cùng lúc. Kết quả là một lời khuyên đúng đắn không chỉ được áp dụng trong một trường hợp mà được nhân lên nhiều trường hợp, được sử dụng nhiều lần thay vì một lần.
Việc kết hợp tư vấn pháp luật sẽ giúp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đi vào quần chúng không mang tính một chiều, đơn điệu, gắn quy định pháp luật vào các tình huống cụ thể, trả lời các câu hỏi thực tế đặt ra. Như vậy, đây cũng là một cách thức hữu hiệu thúc đẩy phổ biến, giáo dục pháp luật phát triển, đa dạng hóa các kênh tuyên truyền pháp luật.
2.3 Những hạn chế còn tồn tại.
Trên thực tế đã có sự lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật trong hoạt động tư vấn pháp luật nhưng chưa được thực hiện thường xuyên, còn mang tính ngẫu nhiên, tự phát mà chưa có mục đích, kế hoạch cụ thể. Mặt khác, chúng ta cũng chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá chính xác hiệu quả của việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua các hình thức tư vấn pháp luật. Sự chuyển biến trong nhận thức, hiểu biết pháp luật đòi hỏi phải có một quá trình tác động lâu dài, với nhiều cách thức khác nhau, phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Do vậy, sự kết hợp giữa phổ biến, giáo dục pháp luật trong công tác tư vấn pháp luật trên thực tế còn có những hạn chế sau đây:
- Nhận thức, quan điểm chưa đúng, chưa đầy đủ về việc lồng ghép hoạt động: đó là quan niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn pháp luật là 2 hoạt động tách rời nhau hoàn toàn, việc ai nấy làm nên chưa có sự quan tâm phối hợp, hoặc nếu có cũng mang tính hình thức, hời hợt.
- Cách triển khai thực hiện cả hai hoạt động nói trên còn trùng lặp về một số nội dung hoạt động, địa bàn, đối tượng được tư vấn và tuyên truyền pháp luật, dễ dẫn đến tình trạng lãng phí về tài chính, nhân lực và vật lực một cách không cần thiết.
- Do chưa được bồi dưỡng, trang bị về kỹ năng tuyên truyền, thiếu thông tin và tài liệu nghiệp vụ nên phần lớn cán bộ tư vấn pháp luật (kể cả luật sư) còn e ngại, chưa nhiệt tình tham gia vào công tác tư vấn pháp luật có lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật.
2.4 Biện pháp nâng cao hiệu quả lồng ghép phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật
* Nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa của việc lồng ghép
Tuyên truyền để nâng cao nhận thức về mục đích ý nghĩa của việc kết hợp, lồng ghép các hình thức hoạt động này là việc làm hết sức cần thiết trong thời gian tới. Cần có cách hiểu và thực hiện thống nhất từ các cấp trung ương đến địa phương, từ cơ quan, tổ chức triển khai hoạt động đến người tiến hành công việc cụ thể.
* Mở rộng phạm vi thực hiện lồng ghép
Từ chỗ thí điểm có kết quả, cần có chính sách nhân rộng mô hình lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tư vấn pháp luật ở nhiều địa phương, nhiều tổ chức. Hướng dẫn cụ thể trong quá trình thực hiện và hỗ trợ kịp thời về tài chính, nhân lực, tài liệu.
* Bồi dưỡng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật và nghiệp vụ tư vấn pháp luật
Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ luật sư, cán bộ tư vấn pháp luật: đây là điểm còn thiếu và yếu cần được quan tâm bồi dưỡng, để đội ngũ nói trên tham gia tích cực, tự nguyện và có trách nhiệm đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Cán bộ tư vấn pháp luật cần vận dụng kiến thức pháp luật, sự hiểu biết, kỹ năng về phổ biến, giáo dục pháp luật trong quá trình thực hiện tư vấn pháp luật để hoạt động này càng thêm ý nghĩa và hiệu quả trên thực tế. Họ không chỉ cần có kiến thức chuyên môn để thực hiện công việc chuyên môn mà cần có vốn sống, hiểu biết xã hội nhất định và kim nghiệm ứng xử phù hợp với đối tượng cần được tư vấn, tuyên truyền pháp luật.
* Hướng dẫn cách thức biên soạn tài liệu để phổ biến và tư vấn pháp luật
Công tác biên soạn tài liệu tưởng chừng chỉ là vấn đề kỹ thuật nhưng trên thực tế lại góp phần không nhỏ vào thành công của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Tài liệu cần được xây dựng đơn giản, ngôn ngữ phổ thông, gần gũi với quần chúng sẽ càng dễ đọc, dễ hiểu; sử dụng nhiều hình ảnh minh họa, bảng biểu càng dễ nhớ.
Tài liệu cần thể hiện rõ những thông điệp chính, gửi lấy ý kiến góp ý của các bên liên quan và đối tượng phục vụ trước khi in ấn, phát hành chính thức.
* Hướng dẫn cách thức lồng ghép cho các tổ chức và người thực hiện tư vấn pháp luật
a) Về đối tượng:
Cần tìm hiểu và có thông tin tương đối cụ thể về đối tượng được tư vấn - nhu cầu của họ (cần gì và thiếu cái gì), nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn (nếu có thể).
b) Về chủ đề pháp luật:
Căn cứ vào nhu cầu của đối tượng cần tư vấn, giải đáp pháp luật để kết hợp phổ biến, tuyên truyền những nội dung chính sách, vấn đề pháp luật có liên quan. Nội dung pháp luật cần cụ thể, không quá rộng, lan man hoặc quá cao siêu đối với mức độ hiểu biết của họ, vì như vậy sẽ ít có tác dụng.
c) Về thời gian, không gian, địa điểm, điều kiện kinh tế - xã hội:
Đây cũng là các yếu tố quan trọng cần cân nhắc khi lập kế hoạch và thực hiện việc lồng ghép. Ví dụ: khi tư vấn pháp luật trong vài phút qua điện thoại thì rất khó có thể tranh thủ tuyên truyền pháp luật, khác với việc tư vấn hàng giờ tại trụ sở của Trung tâm tư vấn pháp luật; hoặc các cuộc tư vấn cả ngày, cả buổi tại trụ sở doanh nghiệp; tư vấn tại thành phố, thị trấn sẽ không giống các cuộc tư vấn lưu động tại thôn, xã, bản làng ở vùng sâu, vùng xa.
d) Lựa chọn hình thức:
Có thể thực hiện tư vấn trực tiếp bằng miệng hoặc qua thư trả lời, giải đáp qua báo, đài, tại chỗ (trụ sở của Trung tâm tư vấn pháp luật, Đoàn luật sư, Văn phòng luật sư …) hoặc đi lưu động; xây dựng các diễn đàn trên báo giấy, trên mạng điện tử, chuyên mục trên sóng phát thanh, truyền hình v.v…