1.Trình tự thực hiện

– Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu gửi đơn và các tài liệu kèm theo gửi đến Bộ Tư pháp;

– Bộ Tư pháp xem xét đơn và tài liệu kèm theo và yêu cầu người nộp đơn đóng lệ phí theo quy định tại Văn phòng Bộ Tư pháp sau đó chuyển hồ sơ về Toà án nhân dân có thẩm quyền;

– Trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, Tòa án có quyển yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đã gửi đơn yêu cầu giải thích những điểm chưa rõ trong hồ sơ;

– Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có thể ra các quyết định sau:

+ Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong trường hợp nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ Tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đang xem xét quyết định của Trọng tài nước ngoài;

+ Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thi hành đã tự nguyện thi hành; cơ quan, tổ chức phải thi hành đã bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc cá nhân phải thi hành đã chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó không được thừa kế;

+ Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong trường hợp nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ Tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã huỷ bỏ hoặc đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài;

+ Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại hồ sơ cho Bộ Tư pháp trong trường hợp không đúng thẩm quyền hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành không có trụ sở chính tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành không cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc không xác định được địa điểm nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam;

+ Mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể ra các quyết định: Công nhận hoặc không công nhận quyết định đó.

– Sau khi Toà án đã ra quyết định quy định nói trên thì Toà án gửi cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp quyết định đó; nếu đương sự ở nước ngoài thì quyết định được gửi thông qua Bộ Tư pháp.

– Kháng cáo, kháng nghị

Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định quy định nói trên, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết định đó. Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng cáo.Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo.

Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị quyết định của Toà án.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.

– Xét kháng cáo, kháng nghị

Toà án nhân dân tối cao xét quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải yêu cầu giải thích thì thời hạn này được kéo dài, nhưng không quá hai tháng.

Hội đồng có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc xét kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp đương sự rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị hoặc có căn cứ quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 368 của Bộ luật TTDS.

Quyết định của Toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.

2. Cách thức thực hiện và thành phần hồ sơ

Cách thức thực hiện: Trực tiếp tại Bộ Tư pháp hoặc qua hệ thống bưu chính

Thành phần hồ sơ:

– Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài: Đơn phải đảm bảo các quy định tại Khoản 1 Điều 364 Bộ luật Tố tụng dân sự;

 Bản sao hợp pháp quyết định của Trọng tài nước ngoài; bản sao hợp pháp thoả thuận trọng tài của các bên về việc giải quyết tranh chấp có thể hoặc đã phát sinh giữa họ với nhau theo thể thức trọng tài mà pháp luật của nước hữu quan quy định có thể giải quyết được theo thể thức đó. Thoả thuận trọng tài có thể là điều khoản về Trọng tài đã được ghi trong hợp đồng hoặc thoả thuận riêng về Trọng tài được các bên ký kết sau khi phát sinh tranh chấp.

– Đơn và các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Số lượng hồ sơ: Không quy định cụ thể (thực tế là 03 bộ).

3.Thời hạn giải quyết

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo, Bộ Tư pháp phải chuyển hồ sơ đến Toà án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 34 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4.Trường hợp không cho công nhận và thi hành tại Việt Nam

Thoả thuận trọng tài không có giá trị pháp lý vì lý do các bên đã ký thoả thuận trọng tài nhưng không có năng lực để ký thoả thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên; thoả thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi quyết định đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thoả thuận đó;

Tổ chức, cá nhân phải thi hành không được đảm bảo đầy đủ các quyền tố tụng trọng tài của mình như không được thông báo kịp thời và hợp thức về chỉ định trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại trọng tài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình;

Quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên về một tranh chấp không được các bên đương sự yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên đương sự nêu trong thoả thuận trọng tài; trong trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại trọng tài, thì phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

Thành phần của Uỷ ban trọng tài giải quyết tranh chấp hoặc thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài không phù hợp với thoả thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi quyết định của trọng tài được tuyên, nêu thoả thuận trong tài không quy định về các vấn đề đó;

Quyết định trọng tài chưa có hiệu lực bắt buộc đốỉ vối các bên đương sự; Quyết định trọng tài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi quyết định được tuyên hoặc của nưốc có pháp luật đã được áp dụng, huỷ bỏ hoặc đình chỉ thi hành;

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài;

Việc công nhận và cho thì hành quyết định của trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Nhìn chung, hầu hết các quy định về các trường hợp không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài nêu trong Pháp lệnh tháng 9- 1995 đều hợp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế. Riêng quy định về việc không công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài, nếu việc này trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, thì nên được cân nhắc thêm. Sở dĩ như vậy là vì, bản thân hành vi công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài theo nguyên tắc và thủ tục quy định tại Pháp lệnh tháng 9- 1995 không có gì trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Vấn đề chính là ở hậu quả của việc công nhận và cho thi hành có trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam hay không. Cách quy định của Pháp lệnh tháng 9-1995 về vấn đề này có sự không phân biệt rõ ràng giữa hành vi được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và hậu quả của nó có thể xảy ra.

5. Vấn đề công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài

Trong phạm vi nhất định, Việt Nam cho phép các bên tranh chấp thoả thuận chọn trọng tài, kể cả trọng tài nước ngoài để giải quyết tranh chấp. Vì vậy, nếu tranh chấp được giải quyêt tại trọng tài nước ngoài và bên phải thi hành quyết định của trọng tài ở trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc có tài sản tại Việt Nam liên quan đến việc thi hành, mà không tự nguyện thi hành thì quyết định của trọng tài nước ngoài có được cưSng chế thi hành tại Việt Nam hay không?

Trong điều kiện quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa Việt Nam với các nước ngày càng phát triển, các tranh chấp có yếu tố nưởc ngoài sẽ phát sinh ngày càng nhiều các tổ chức, cá nhân nước ngoài sẽ quan tâm nhiều hơn đến vấn đề công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài.

Trước khi ban hành Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995, vấn đề công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nưóc ngoài đã được quy định dưới những hình thức khác nhau trong một số văn bản pháp luật. Ví dụ: Khoản 4 điều 15 Quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP ngày 23-11-1993 của Chính phủ quy định rằng "Quyết định của trọng tài được bảo đảm thi hành tại Việt Nam" V.V..

Để đảm bảo cho tổ chức, cá nhân nước ngoài yên tâm mỏ rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam, ngay sau khi Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định (tháng 7 năm 1995) về việc Việt Nam tham gia Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài, Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài đã được soạn thảo và được uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua tháng 9-1995 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh tháng 9-1995).

Theo Pháp lệnh tháng 9-1995, quyết định của trọng tài nước ngoài là quyết định trọng tài được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam và cả quyết định trọng tài do trọng tài nưổc ngoài tuyên trên lãnh thổ Việt Nam.

Pháp lệnh tháng 9-1995 khẳng định Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nưốc ngoài trên cơ sở điều ưổc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; trong quan hệ với các nưốc không ký kết điều ưóc quốc tế vối Việt Nam, thì việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài của nước ngoài đó được giải quyết trên cơ sỗ có đi có lại; quyết định của trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành. Việc thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài được tiến hành theo quy định của pháp luật Việt Nam về thi hành án dân sự.

Bên được thi hành, người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nưốc ngoài, nếu tổ chức phải thi hành có trụ sở chính, cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc ở Việt Nam hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam. Toà án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức phải thi hành có trụ sỗ chính, cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành.

Quyết định của trọng tài nước ngoài được Toà án Việt Nam* công nhận và cho thi hành có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam như bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam. Nếu tổ chức, cá nhân phải thi hành không tự nguyện chấp hành quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam về việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)