- 1. Khái quát về Công ty hợp danh
- 2. Các vấn đề pháp lý về thành viên của Công ty hợp danh
- 2.1. Thành viên hợp danh
- 2.1.1. Điều kiện để trở thành thành viên hợp danh
- 2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh
- 2.2. Thành viên góp vốn
- 2.2.1. Điều kiện trở thành thành viên góp vốn
- 2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn
- 2.3. Hình thành và chấm dứt tư cách thành viên của công ty
- 3. Đánh giá về ưu và nhược điểm về thành viên của công ty hợp danh
1. Khái quát về Công ty hợp danh
Hiện nay, không chỉ riêng ở Việt Nam mà cũng như các nước khác trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa công ty hợp danh, một số quan điểm về công ty hợp danh như "Công ty hợp danh là một công ty mà trong đó các thành viên đều có tư cách thương gia chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới về các khoản nợ của công ty". Theo ghi nhận tại Luật thống nhất về công ty hợp danh (Partnership) năm 1914 thì công ty hợp danh “là sự liên kết gồm hai hay nhiều chủ sở hữu và với tư cách là người đòng sở hữu họ cùng nhau kinh doanh để thu lợi nhuận”. Qua đó có thể khái quát một vài nét tương đối về công ty hợp danh như sau: Công ty hợp danh là một loại hình liên kết mang bản chất đối nhân, có thể có hoặc không có tư cách pháp nhân, thành viên chỉ có thể bao gồm các thành viên hợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty.
Công ty hợp danh được chia thành 2 loại chính là: Công ty hợp danh thông thường và công ty hợp danh hữu hạn.
2. Các vấn đề pháp lý về thành viên của Công ty hợp danh
Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam công ty hợp danh có 2 loại thành viên: thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Ở các nước khác trên thế giới tùy vào sự phân loại của các nước mà chia thành 2 hoặc 3 loại thành viên như: thành viên hợp danh (partnership), thanh viên hợp danh hữu hạn (limited partnership) và thành viên hợp danh cổ phần (Limited Liability Partnership). Dù công ty hợp danh được tổ chức theo loại hình nào thì trong công ty nhất thiết phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh, đây là điều kiện bắt buộc phải có theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 17 luật doanh nghiệp 2020 “Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh)…”. Các vấn đề pháp lý về thành viên của công ty hợp danh được quy định cụ thể như sau:
2.1. Thành viên hợp danh
2.1.1. Điều kiện để trở thành thành viên hợp danh
Các cá nhân muốn trở thành thành viên của công ty hợp danh phải đáp ứng các nhu cầu sau: Theo quy định tại điều khoản 2 điều 17 luật doanh nghiệp 2020 cá nhân không rơi vào các trường hợp sau có thể trở thành thành viên hợp danh: Cán bộ, công chức, viên chức. “Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước”. Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. “Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng”. Trong quy định về các trường hợp bị cấm của cá nhân đã được mở rộng hơn so với luật doanh nghiệp 2014 như: người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Để trở thành thành viên hợp danh của công ty cá nhân phải góp vốn, việc góp vốn ít hay nhiều sẽ được phục thuộc vào sự thoả thuận và được ghi vào Điều lệ của công ty. Khi đã tiến hành thoả thuận thành viên hợp danh phải đóng đủ và đúng hạn theo thoả thuận, nếu không thực hiện theo cam kết đã thoả thuận sẽ phải bồi thường thiệt hại cho công ty. Bên cạnh đó, khi trở thành thành viên hợp danh của công ty kinh doanh ngành nghề phải có giấy chứng chỉ hành nghề.
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh
- Quyền của thành viên hợp danh
Thành viên hợp danh của công ty hợp danh có các quyền cơ bản sau: Thứ nhất, tham gia các cuộc họp, thảo luận, biểu quyết các vấn đề của công ty, mỗi thành viên hợp danh sẽ có 1 phiếu biểu quyết hay số phiếu khác theo quy định tại Điều lệ công ty đây cũng là điểm khác biệt so với các thanh viên của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Thứ hai, nhân danh công ty tiến hành các hoạt động kinh doanh như: Đàm phán, ký hợp đồng, thỏa thuận giao ước có điều kiện thuận lợi nhất cho công ty. Thứ ba, sử dụng con dấu, tài sản của công ty để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nếu sử dụng tài sản cá nhân để thực hiện trước các hoạt động kinh doanh thì thành viên đó có quyền yêu cầu công ty hoàn trả lại số tiền và lãi. Được nhận thông tin nội bộ, xem hồ sơ, sổ sách kế toán, của công ty, được chia lợi nhuận tương ứng với số vốn đã góp. Và các quyền khác theo quy định tại khoản 1 điều 181 Luật doanh nghiệp 2020.
- Nghĩa vụ của thành viên hợp danh
Các thành viên hợp danh có những nghĩa vụ cơ bản sau: Tiến hành quản lý, thực hiện các công việc, hoạt động kinh doanh một cách trung thực, cẩn trọng, phù hợp với quy định, tối ưu hoá việc đảm bảo lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong công ty. Không lạm dụng tài sản, uy tín của công ty để vụ lợi cho bản thân, có trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại gây ra. Liên đới chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ của công ty. Trách nhiệm của thành viên hợp danh phát sinh ngay từ khi đăng ký trở thành thành viên hợp danh của công ty ngay cả khi họ chưa được hưởng loại hay chấm dứt tư cách thành viên.
2.2. Thành viên góp vốn
2.2.1. Điều kiện trở thành thành viên góp vốn
Trong luật doanh nghiệp không quy định thành viên góp vốn phải là cá nhân, vì vậy các cơ quan, tổ chức, pháp nhân khác đều có thể trở thành thành viên góp vốn của công ty. Trừ các trường hợp quy định sau, “cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình” và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Việc góp vốn củ thành viên sẽ dựa trên thoả thuận và được ghi vào Điều lệ công ty.
Thành viên góp vốn không góp vốn vào công ty bằng và không mang bản chất đối nhân do đó các thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong số vốn đã góp, bên cạnh đó thành viên góp vốn cũng không bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề. Các quy định này nhằm tạo điều kiện để công ty hợp danh thu hút thêm vốn đầu tư từ các nhà đầu tư có vốn hoặc những người không thích mạo hiểm trong kinh doanh.
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn
- Quyền của thành viên góp vốn
Bên cạnh một số quyền hạn theo quy định tại luật doanh nghiệp như được chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, được cung cấp báo cáo tài chính, chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác mà không cần xin ý kiến hay sự cho phép…, thì thành viên góp vốn bị hạn chế một số quyền như sau: Không có quyền họp và biểu quyết các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của công ty nói cách khác là không có quyền quản lý công ty, chỉ có quyền họp và biểu quyết các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ tại công ty… Việc hạn chế các quyền này xuất phát từ tính chất liên kết và chế độ chịu trách nhiệm của thành viên công ty hợp danh.
- Nghĩa vụ của thành viên góp vốn
Các thành viên góp vốn sẽ phải chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ khác trong phạm vi số vốn đã góp, đây là một điểm khác biệt rõ rệt so với thành viên hợp danh của công ty nhằm thúc đẩy, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư. Tuân thủ Điều lệ công ty, quyết định của Hội đồng thành viên và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
2.3. Hình thành và chấm dứt tư cách thành viên của công ty
- Hình thành tư cách thành viên
Để hình thành tư cách thành viên có thể thông qua các con đường sau: Góp vốn vào công ty: Cá nhân khi trở thành thành viên hợp, cá nhân hay tổ chức muốn trở thành thành viên góp vốn thì phải góp vốn vào công ty. Thành viên có thể góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất,…khi góp đủ vốn thành viên sẽ nhận được giấy chứng nhận phần vốn góp, khẳng định là thành viên có đầy đủ quyền vào nghĩa vụ đối với công ty. Nếu không có khả năng góp vốn hoặc không góp sau khi công ty đã có yêu cầu lần hai thì sẽ không còn là thành viên của công ty nữa.
Nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty. Cá nhân khi nhận chuyển nhượng phần vốn góp sẽ trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận, như vậy để hình thành tư cách thành viên theo cách này là không dễ dàng vì chỉ cần một thành viên của Hội đồng thành viên không chấp thuận thì sẽ không được trở thành thành viên. Điều này thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong công ty, khi tiếp nhận thêm thành viên mới mối quan hệ này sẽ bị phá vỡ.
Thứ ba, là được tặng cho, thừa kế phần vốn góp một người được tặng cho hay thừa kế phần vốn góp sẽ trở thành thành viên của công ty nếu nhận được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên (thanh viên góp vốn không cần sự chấp thuận mà vẫn trở thành thành viên). Việc được tăng cho hay thừa kế phần vốn góp chưa làm phát sinh tư cách thành viên của công ty mà phải nhận được sự chấp thuận điều này khiến việc hình thành tư cách thành viên trở nên khó khăn hơn so với công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Cuối cùng là nhận được nợ bằng phần vốn góp thì cá nhân, tổ chức sẽ hình thành tư cách thành viên khi nhận được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên. Nếu không nhận được sự nhất trí của hội đồng thành viên thì cá nhân, tổ chức sẽ chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên khác của công ty theo thoả thuận để nhận lại khoản tiền mà mình đã cho vay.
- Chấm dứt tư cách thành viên
Chấm dứt tư cách thành viên hợp danh: Thành viên hợp danh tự nguyện rút vốn khỏi công ty nếu được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên, khi rút khỏi thì phải thông báo bằng văn bản yêu cầu rút vốn chậm nhất là sáu tháng trước ngày rút vốn và chỉ được rút vốn khi kết thúc năm, báo cáo tài chính của năm đã được thông qua. Việc rút vốn này khá khó khăn do tính ràng buộc của các thành viên với nhau. Ngoài ra các trường hợp đã chết, Toà án tuyên là mất tích hạn chế năng lực hành vi, bị khai trừ khỏi công ty và các quy định khác tại Điều lệ công ty cũng sẽ chấm dứt tư cách thành viên của công ty.
Chấm dứt tư cách thành viên góp vốn: Các trường hợp chấm dứt tư cách thành viên của công ty hợp danh cũng tương tự như công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn vì thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn, các trường hợp chấm dứt tư cách gồm: Đã chết, mất tích, thành viên chưa góp vốn vào công ty khi đến hạn đã cam kết trong Điều lệ công ty, chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác và bị khai trừ khỏi công ty.
3. Đánh giá về ưu và nhược điểm về thành viên của công ty hợp danh
Những ưu và nhược điểm về thành viên của công ty hợp danh:
Ưu điểm: Là công ty đối nhân nên các thành viên có mối quan hệ mật thiết với nhau, các thành viên sẽ có đánh giá tốt nhất về năng lực và đóng góp của thành viên đó với công ty, giữa các thành viên có độ tin cậy cao là yếu tố thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của công ty. Quy định của pháp luật tạo điều kiện cho việc mở rộng phát triển bằng cách cho phép pháp nhân trở thành thành viên góp vốn. Các thành viên của công ty hợp danh thông thường là các thanh viên có uy tín, có kinh nghiệm, bằng cấp, cùng với chế độ chịu trách nhiệm vô hạn sẽ tạo nên sự thu hút đối với các thành viên góp vốn và dễ dàng vay vốn từ các ngân hàng cũng như các cơ quan, tổ chức. Nếu Điều lệ công ty không có quy định khác, các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau trong việc quyết định các vấn đề của công ty mà không phụ thuộc vào vốn góp tạo nên sự bình đẳng và nhiều góc nhìn khách quan trong việc phát triển công ty.
Nhược điểm: Các thành viên hợp danh sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn, liên đới chịu trách nhiệm vì vậy tạo nên rủi ro lớn khi góp vốn vào công ty. Trong điều hành, quản lý công ty đôi khi sẽ đánh mất cơ hội và tốn thời gian vì các thành viên hợp danh đều có quyền tự do thảo luận, biểu quyết,…Bên cạnh đó, thành viên của công ty chỉ có thể là cá nhân nên pháp nhân không thể trở thành thành viên của công ty. Các thành viên có nhiều hạn chế trong việc đảm nhiệm các chức vụ khác, thành viên hợp danh muốn chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác thì phải được nhận được sự chấp thuận của các thành viên còn lại.