Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Công ước Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển năm 1978

2. Vận đơn đường biển là gì?

Thuật ngữ “Vận đơn đường biển” được giải thích tại Công ước Hamburg như sau:

“Vận đơn đường biển” là một chứng từ làm bằng chứng cho một hợp đồng vận tải đường biển và cho việc người chuyên chở đã nhận hàng để chở hoặc xếp hàng xuống tàu và bằng vận đơn này, người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng khi xuất trình nó. Một điều khoản trong chứng từ này quy định rằng lô hàng phải được giao theo lệnh của người được ghi đích danh hoặc giao theo lệnh, hoặc giao cho người cầm vận đơn chính là sự cam kết đó.

3. Những nội dung cần có trong vận đơn là gì?

Căn cứ quy định tại Điều 15 Công ước Hamburg, Vận đơn phải bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

- Tính chất chung của hàng hóa, những ký hiệu chủ yếu cần thiết cho việc nhận biết hàng hóa, một ghi chú rõ ràng về tính chất nguy hiểm của hàng hóa, nếu cần, số kiện hoặc số chiếc và trọng lượng hàng hoặc số lượng hàng được thể hiện bằng cách khác, tất cả các chi tiết đó do người gửi hàng cung cấp;

- Tình trạng bên ngoài của hàng hóa;

- Tên và địa điểm kinh doanh chính của người chuyên chở;

- Tên người gửi hàng;

- Tên người nhận hàng, nếu người gửi hàng chỉ định;

- Cảng xếp hàng theo hợp đồng vận tải bằng đường biển và ngày hàng được trao cho người chuyên chở tại cảng xếp hàng;

- Cảng dỡ hàng theo hợp đồng vận tải bằng đường biển;

- Số bản gốc của vận đơn, nếu có hơn một bản;

- Nơi cấp vận đơn;

- Chữ ký của người chuyên chở hoặc của người thay mặt người chuyên chở;

- Tiền cước trong phạm vi mà người nhận hàng phải trả, hoặc chỉ dẫn khác nói lên tiền cước do người nhận trả;

- Điều ghi chú, nếu có áp dụng là hàng hóa sẽ hoặc có thể được chở trên boong;

- Ngày hoặc thời hạn giao hàng tại cảng dỡ hàng, nếu điều này được các bên thỏa thuận rõ ràng và

- Các thỏa thuận quy định những giới hạn trách nhiệm vượt quá các giới hạn quy định

- Phải có một điều nói rõ là việc chuyên chở phụ thuộc vào các quy định của Công ước Hamburg và Công ước này sẽ làm vô hiệu mọi quy định trái với Công ước và gây thiệt hại cho người gửi hàng hoặc người nhận hàng.

4. Vận đơn - Những bảo lưu và hiệu lực chứng cứ

4.1. Quy định tại Công ước Hamburg

1. Nếu vận đơn có những chi tiết về tính chất chung, những ký hiệu chủ yếu, số kiện hoặc số chiếc, trọng lượng hoặc số lượng hàng hóa, mà ngưòi chuyên chở hoặc người khác cấp vận đơn thay mặt người chuyên chở, biết hoặc có cơ sở hợp lý nghi ngờ là không mô tả đúng hàng hóa thực tế đã nhận hoặc đã xếp xuống tàu, trong trường hợp đã cấp một vận đơn "đã xếp hàng, hoặc nếu không có phương tiện hợp lý để kiểm tra những chi tiết đó, thì người chuyên chở hoặc người khác đó phải ghi vào vận đơn một điều khoản bảo lưu những điểm không chính xác đó, những cơ sở của sự nghi ngờ nói trên hoặc sự thiếu phương tiện hợp lý để kiểm tra.

2. Nếu người chuyên chở, hoặc người khác cấp vận đơn thay cho người chuyên chở không ghi vào vận đơn tình trạng bên ngoài của hàng hóa thì coi như ngươi đó đã ghi vào vận đơn rằng hàng hóa có tình trạng bên ngoài tốt.

3. Trừ những chi tiết đã được ghi bảo lưu trong phạm vi mà mục 1 điều này cho phép thì:

a) Vận đơn là bằng chứng hiển nhiên của việc người chuyên chở đã nhộn hàng hóa hoặc trong trường hợp vận đơn "đã xếp hàng" được cấp của việc đã xếp hàng xuống tàu như mô tả trong vận đơn.

b) Chứng minh ngược lại của người chuyên chở không được chấp nhận, nếu vận đơn đã được chuyển cho một người thứ 3, kể cả người nhận hàng đã hành động một cách có thiện ý, tin cậy vào sự mô tở hàng hóa ghi trong vận đơn đó.

4. Một vận đơn, như quy định ở mục 1 tiểu mục k Điều 15, không ghi hoặc không chỉ rõ ràng bằng cách khác tiền cước do người nhận hàng trả hoặc không ghi tiền phạt xếp hàng chậm ở cảng bốc hàng do người nhận hàng trả thì vận đơn đó là bằng chứng hiển nhiên là người nhận hàng không phải trả tiền cước hoặc hoặc tiền phạt xếp hàng chậm đó. Tuy nhiên, chứng minh ngược lại của người chuyên chở không được chấp nhận khi vận đơn đã chuyển cho người thứ 3, kể cả người nhận hàng đã hành động một cách có thiện ý dựa vào việc không có những điều như vậy ghi trong vận đơn.

4.2. Sự bảo lưu

Điều 16.1 quy định rằng, người chuyên chỏ có thế bảo lưu lên vận đơn nếu:

- Biết hoặc có cơ sở hợp lý để nghi ngờ là đã mô tả không đúng về hàng hóa đã nhận hoặc đã xếp xuống tàu.

- Không có phương tiện hợp lý để kiểm tra những chi tiết đó. Điều khoản bảo lưu phải ghi rõ những điểm không chính xác, những cơ sở của sự nghi ngờ hoặc việc thiếu phương tiện hợp lý để kiểm tra.

Một điểm khác với Quy tắc Hague là Quy tắc Hamburg đòi hỏi người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc người đại lý của người chuyên chở phải ghi rõ những cơ sở của sự nghi ngờ, những điểm không chính xác cũng như là sự thiếu các phương tiện hợp lý để kiểm tra. Ví dụ, nếu không có phương tiện hợp lý để cân hàng hóa thì phải ghi lại điều này.

Một điểm khác nữa là cách diễn đạt của Quy tắc Hamburg cũng tiến bộ hơn so với Quy tắc Hague nhưng sự khác biệt giữa hai Quy tắc dường như là không nhiều lắm. Quy tắc Hamburg đòi hỏi phải ghi lên vận đơn một điều khoản bảo lưu, phải ghi rõ những cơ sở của sự nghi ngờ, sự không chính xác cũng như là sự thiếu các phương tiện hợp lý để kiểm tra. Trong khi đó, Quy tắc Hague chỉ quy định rằng, người chuyên chở, thuyền trưởng hoặc đại lý của họ có thể không buộc phải ghi lên vận đơn những điều còn nghi ngờ hoặc không xác định được.chính xác, nếu họ có cơ sở hợp lý để nghi ngờ rằng chi tiết của hàng hóa đã nhận của người gửi hàng không được mô tả một cách chính xác như hàng hóa thực nhận.

Từ lâu, hầu hết các vận đơn trong thực tế đã được chuẩn bị bởi người gửi hàng và chuyển đến cho người chuyên chở để ký, thông thường người chuyên chở sẽ ghi điều khoản bảo lưu khi họ không có biện pháp hợp lý để kiểm tra tính chính xác của các chi tiết ghi trên vận đơn. Như vậy, về điểm này Quy tắc Hamburg gần với thực tế hơn Quy tắc Hague.

Sự diễn đạt của Quy tắc Hamburg. Ví dụ, người chuyên chở "phải” ghi một điều khoản bảo lưu, cũng có phần chưa chặt chẽ vì không có sự chế tài trực tiếp nào nếu anh ta không tuân theo yêu cầu này. Tuy nhiên, người ta cho rằng nếu không có điều khoản bảo lưu thì vận đơn là bằng chứng hiển nhiên của việc đã nhận hoặc bốc lên tàu hàng hóa như đã được mô tả trên đó cũng đã có thể coi như một hình thức chế tài đối với người chuyên chở.

Bằng chứng về hàng hóa thực tế không giống như được ghi trên vận tải đơn sẽ không được công nhận khi vận đơn đã chuyển cho người thứ ba kể cả người nhận hàng đã hành động một cách trung thực tin cậy vào sự mô tả hàng hóa trong vận đơn.

4.3. Sự thừa nhận tình trạng bên ngoài tốt của hàng hóa

Điều 16.2 quy định rằng, nếu vận đơn không có ghi chú nào về tình trạng hàng hóa thì coi như người đó đã ghi vào vận đơn rằng hàng hóa có tình trạng bên ngoài tốt. Quy định này đã khẳng định một vấn đề mà theo Quy tắc Hague thì đôi khi không chắc chắn lắm.

4.4. Bằng chứng

Trừ những điều đã được bảo lưu đã được cho phép bởi Điều 16.1 vận đơn là bằng chứng hiển nhiên của việc đã nhận hàng hoặc đã xếp hàng lên tàu như mô tả trong vận đơn.

Điều 16.3 (b) quy định rằng chứng minh ngược lại của người chuyên chở không được chấp nhận nếu vận đơn đã được chuyển cho một người thứ ba đã hành động trung thực, tin cậy vào sự mô tả hàng hóa trong vận đơn. Như vậy, Quy tắc Hamburg không thay đổi cơ sở của Quy tắc Hague - Visby trong vấn đề này.

Bằng chứng của việc thanh toán cước phí. Điều 16.4 quy định rằng, nếu vận đơn không chỉ định rõ rằng: cước vận tải phải trả bởi người nhận hàng như quy định tại Điều 15.1 (k), hoặc không ghi rõ tiền phạt xếp dỡ chậm tại cảng bốc hàng do người nhận hàng trả thì vận đơn là bằng chứng hiển nhiên là người nhận hàng không phải trả tiền cước hoặc tiền phạt xếp dỡ hàng chậm đó. Chứng minh ngược lại không được chấp thuận khi vận đơn đã chuyển cho người thứ ba hành động trung thực dựa vào việc không có những chỉ định về thanh toán cước phí trên vận đơn.

5. Các chứng từ không phải vận đơn

Khi một người chuyên chở phát hành một chứng từ không phải vận đơn để làm bằng chứng cho việc nhận hàng để chở, thì chứng từ đó là bằng chứng hiển nhiên của việc ký kết hợp đồng chuyên chở bằng đường biển và của việc người chuyên chở nhận hàng hóa như mô tở trong chứng từ đó.

Điều 18 giải quyết vấn đề liên quan đến các chứng từ khác vận đơn được người chuyên chở phát hành để làm bằng chứng cho việc đã nhận hàng hóa để chuyên chở. Điều khoản coi các loại chứng từ này có tính chất bằng chứng tương tự như vận đơn đã được quy định ở Điều 16.3 bằng cách phát biểu rằng, những chứng từ đó là bằng chứng hiển nhiên của việc ký kết hợp đồng chuyên chở và việc người chuyên chở đã nhận hàng hóa như đã mô tả trong chứng từ đó.

Điều 18 được đưa ra là do sự gia tăng việc sử dụng các chứng từ vận chuyển không phải là vận đơn trong thực tế vận tải hàng hải. Ví dụ như giấy gửi hàng (way bills). Từ khi có một vài loại các chứng từ như vậy thì Điều 18 lại càng trở nên tổng quát hơn. Việc chấp nhận các chứng từ vận tải không phải là vận đơn đã mang lại một hiệu quả quan trọng trong các thủ tục giao hàng và thanh toán trong ngành thương mại hàng hải nói chung, không chỉ người chuyên chở và người gửi hàng đều khuyến khích việc sử dụng những chứng từ như vậy.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập