Cơ sở pháp lý:
- Công ước Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển năm 1978
1. Vận đơn đường biển là gì?
“Vận đơn đường biển” là một chứng từ làm bằng chứng cho một hợp đồng vận tải đường biển và cho việc người chuyên chở đã nhận hàng để chở hoặc xếp hàng xuống tàu và bằng vận đơn này, người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng khi xuất trình nó. Một điều khoản trong chứng từ này quy định rằng lô hàng phải được giao theo lệnh của người được ghi đích danh hoặc giao theo lệnh, hoặc giao cho người cầm vận đơn chính là sự cam kết đó. (khoản 7 Điều 1 Công ước Hamburg)
2. Quy định về phát hành vận đơn đường biển
Điều 14 Công ước Hamburg quy định về phát hành vận đơn như sau:
1. Khi người chuyên chở hoặc người chuyên chở thực tế nhận hàng để chở, người chuyên chở phải phát hành một vận đơn cho người gửi hàng theo yêu cầu của người này.
2. Vận đơn có thể do một người được chuyên chở ủy quyền ký phát. Một vận đơn do thuyền trưởng tàu chở hàng ký được coi là đã ký thay mặt người chuyên chở.
3. Chữ ký trên vận đơn có thể được ký bằng tay, in chữ ký tay, đục lỗ, đóng dấu, ký hiệu tượng trưng hoặc bằng các phương tiện cơ khí hoặc điện tử khác, nếu những cách ký này không trái với luật của nước mà tại đó vận đơn được phát hành.
2.1 Quyền đòi hỏi vận tải đơn
Điều 14.1 yêu cầu người chuyên chở phát hành cho người gửi hàng một vận tải đơn khi được yêu cầu của người gửi hàng. Nếu người gửi hàng không đòi hỏi vận tải đơn thì người chuyên chở có thể phát hành một chứng từ khác (ví dụ Sea - Way Bill). Để củng cố vị thế của người gửi hàng và hoặc người nhận hàng, các Điều khoản từ 15 đến 17 của Quy tắc Hamburg sẽ bao gồm các điều khoản quy định chặt chẽ hơn và chi tiết hoá về vận tải đơn so với Quy tắc Hague.
2.2. Ký phát vận tải đơn
Nếu câu thứ nhất trong tiểu khoản này là một sự thật hiển nhiên thì câu thứ hai đã thêm vào một quy tắc có ích cho việc giải thích: một vận đơn do thuyền trưởng tàu chở hàng ký được coi là đã ký thay mặt người chuyên chở. Điều này có thể giúp làm sáng tỏ những trường hợp liên quan đến vấn đề này mà trong thực tế hiện tại còn chưa rõ ràng. Việc làm rõ ràng này đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp khi người ký hợp đồng chuyên chở giao phó một phần hoặc toàn bộ hành trình cho người chuyên chở thực sự.
Quy tắc Hague không có quy định rõ ràng về điểm này. Như vậy, thuyền trưởng có thể bị chi phối bởi các điều khoản của hợp đồng chuyên chở (ví dụ điều khoản định danh người chuyên chở), điều mà sẽ đưa đến những hậu quả pháp lý khác nhau ở mỗi quốc gia khác nhau, cũng như bởi sự không đồng nhất của luật các quốc gia.
2.3. Chữ ký
Điều 14.3 cố gắng làm rõ thuật ngữ "chữ ký" bằng cách đưa ra một loạt các hình thức khác. Điều này mở rộng nghĩa của thuật ngữ "chữ ký" và phù hợp với kỹ thuật văn bản hiện đại. Thêm vào với chữ ký bằng tay, chữ ký có thể bằng các phương thức khác như cơ khí, điện tử hay các phương thức khác, miễn là nó không trái với luật pháp của nước nơi mà vận đơn được phát hành.
Điều khoản này tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng các chứng từ bao gồm cả chữ ký trên đó bằng phương tiện điện tử, là phương thức đang ngày càng trở nên quan trọng hơn trên thực tế và đưa đến việc sử dụng nhiều hơn việc trao đổi dữ liệu điện tử như ngày nay.
3. Vận tải đơn có những nội dung gì?
Điều 15 Công ước Hamburg quy định về nội dung vận tải đơn như sau:
1. Ngoài các chi tiết khác, vận đơn phải bao gồm, những chi tiết sau đây.
a) Tính chất chung của hàng hóa, những ký hiệu chủ yếu cần thiết cho việc nhận biết hàng hóa, một ghi chú rõ ràng về tính chất nguy hiểm của hàng hóa, nếu cần, số kiện hoặc số chiếc và trọng lượng hàng hóa hoặc số lượng hàng được thể hiện bằng cách khác, tất cở các chi tiết đó do người gửi hàng cung cấp;
b) Tình trạng bên ngoài của hàng hóa;
c) Tên và địa điểm kinh doanh chính của người chuyên chở;
d) Tên người gửi hàng;
e) Tên người nhận hàng nếu người gửi hàng chỉ định;
f) Cảng xếp hàng theo hợp đồng chuyên chở bằng đường biển và ngày hàng được trao cho người chuyên chở tại cảng xếp hàng;
g) Cảng dỡ hàng theo hợp đồng chuyên chở bằng đường biển
h) Số bản gốc của vận đơn nếu có hơn một bản
i) Nơi cấp phát vận đơn
j) Chữ ký của người chuyên chở hoặc của người thay mặt người chuyên chở;
k) Tiền cước trong phạm vi mà người nhận hàng phải trả hoặc chỉ dẫn khác nói lên tiền cước do người nhận trả;
l) Điều ghi chú nói đến trong Điều 23 (3);
m) Điều ghi chú, nếu có áp dụng là hàng hóa sẽ hoặc có thể được chở trên boong;
n) Ngày hoặc thời hạn giao hàng tại cảng dỡ hàng, nếu Điều này được các bên thỏa thuận rõ ràng và
o) Sự tăng thêm giới hạn trách nhiệm mà các bên thỏa thuận theo Điều VI (4),
2. Sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu, người chuyên chở phải cấp cho người gửi hàng một vận đơn "đã xếp hàng" nếu người gửi hàng yêu cầu. Vận đơn này, ngoài những chi tiết theo yêu cầu của mục 1 điều này, phải ghi rằng hàng hóa đã ở trên môt hoặc những chiếc tàu chỉ định và phải ghi ngày hoặc những ngày xếp hàng. Nếu người chuyên chở đã cấp trước đó cho người gửi hàng một vận đơn hoặc một chứng từ sở hữu khác về bất kỳ hàng hóa nào trong số hàng hóa đó thì, theo yêu cầu của người chuyên chở, người gửi hàng phải giao lại chứng từ đó cho người chuyên chở để đổi lấy vận đơn đã xếp hàng. Để đáp ứng yêu cầu của người gửi hàng muốn có một vận đơn "hàng đã xếp”, người chuyên chở có thể bổ sung vào bất kỳ chứng từ nào đã cấp phát trước đó, miễn là sau khi được bổ sung chứng từ đó có đầy đủ thông tin mà một vận đơn "đã xếp hàng" phải có.
3. Việc vận đơn thiếu một hoặc nhiều chi tiết nói trong điều này không ảnh hưởng đến tính hợp pháp của chứng từ với tư cách là một vận đơn, miễn là chứng từu đó đáp ứng được những yêu cầu nêu trong Điều 1 (7).
3.1. Liệt kê nội dung
Điều 15.1 quy định danh sách các nội dung phải có trong vận tải đơn. Việc ghi rõ ràng thành các điều khoản như vậy cụ thể và toàn diện hơn so với Quy tắc Hague. Khoản 3 của điều này đã sửa lại phần nào việc sử dụng thuật ngữ "phải bao gồm" tại Khoản 1, sự thiếu một hay một vài chi tiết được quy định tại Khoản 1 không ảnh hưởng đến tính hợp pháp của vận đơn. Thuật ngữ "phải bao gồm" trong Khoản 1 chỉ có nghĩa là nếu vận đơn thiếu những chi tiết đã yêu cầu thì người chuyên chở đã có sự vi phạm hợp đồng chuyền chở.
Sự khác nhau cơ bản giữa Quy tắc Hague và Quy tắc Hamburg về các quy định này là:
- Điều 15.1 (a) Quy tắc Hamburg yêu cầu rằng số kiện hay số đơn vị hàng hóa cũng như là trọng lượng hàng hóa đều phải được ghi rõ trên vận tải đơn trong khi Quy tắc Hague Điều III.3 (b) chỉ yêu cầu một trong số các chi tiết đó. Điều khoản này của Quy tắc Hamburg đã từng bị phê phán là không thực tế, tuy nhiên người ta đã chứng minh được rằng mục đích của nó là đúng đắn. Bởi vì, trọng lượng và số hàng hóa là những yếu tố cơ bản để quyết định giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở, chúng phải được ghi rõ trên vận tải đơn. Trong thực tế có thể có những trường hợp không có cách nào để kiểm tra được trọng lượng của hàng hóa. Trong những trường hợp như vậy, người chuyên chở có thể bảo lưu theo quy định của Điều 16.1 chỉ rõ sự thiếu một biện pháp hợp lý để kiểm tra. Những điều bảo lưu như vậy không làm ảnh hưởng đến giá trị thương mại của vận đơn hoặc không làm cho vận đơn trở nên "không sạch" theo quy định của tín dụng thư.
- Điều 15.1 (c) yêu cầu trong vận đơn phải có cả tên và trụ sở kinh doanh chính của người chuyên chở. Điều này nhằm để xác định người phát hành vận tải đơn và nhờ đó điều quan trọng là vận đơn có thể xác định được bên ký kết hợp đồng chuyên chở và có thể tìm thấy anh ta ở đâu. Việc chỉ ra trụ sở chính của người chuyên chở cũng nhằm xác định được một trong những nơi có thể khiếu nại người chuyên chở theo các Điều 21.1 và Điều 21.3 của Quy tắc Hamburg. Đối với loại vận đơn "đã xếp hàng" sẽ có chỉ định tàu chuyên chở và qua đó cung cấp cho người gửi hàng những thông tin cần thiết, ít nhất là nhằm mục đích khiếu nại nếu có sau này. Tuy nhiên, người chuyên chở cũng có thể sẽ phát hành "vận đơn nhận hàng đề chở", vận đơn này theo Quy tắc Hamburg có cũng giá trị kinh tế như là vận đơn "đã xếp hàng" nhưng trên vận đơn này không chỉ định rõ con tàu sẽ chuyên chở hàng hóa.
- Điều 15.1 (i) đòi hỏi trên vận tải đơn phải có cả tên cảng xếp hàng và ngày hàng được trao cho người chuyên chở. Những chi tiết như vậy thường được ghi rõ trên vận đơn nhằm các mục đích thương mại là người nhận được vận đơn muốn biết được người chuyên chở đã nhận hàng hóa khi nào và ở đâu.
- Điều 15.1 (k) đòi hỏi trên vận tải đơn phải có sự ghi chú về tiền cước trong phạm vi phải trả bởi người nhận hàng. Điều này đã gây ra nhiều tranh luận trong quá trình dự thảo Quy tắc về đòi hỏi trên vận đơn phải ghi rõ số cước phí mà người nhận hàng phải trả. Tuy nhiên, người ta không thường xuyên ghi lên vận đơn số cước phí chính xác chưa được trả trước, mà một cách vừa phải, theo Quy tắc Hamburg người ta chỉ cần chỉ định trên vận đơn là cước phí phải trả bởi người nhận hàng.
Điều khoản này đưa ra một sự bảo vệ hợp lý đối với người được chuyển nhượng vận đơn. Theo quy dịnh tại Điều 16.4, nếu vận tải đơn không chỉ định rõ rằng cước phí được trả bởi người nhận hàng thì đó là bằng chứng hiển nhiên là anh ta không phải trả cước phí đó. Hơn nữa, bằng chứng ngược lại không được công nhận để chống lại người được nhượng vận đơn đã hành động trung thực, người đã tin tưởng vào sự không có điều chỉ định trên vận đơn là họ phải trả cước phí.
- Điều 15.1(1) đòi hỏi trên vận tải đơn phải có lời tuyên bố là hợp đồng này chịu sự chi phối của Quy tắc Hamburg, để vô hiệu hóa những quy định hủy bỏ nó, nhờ đó làm giảm thiệt hại của người gửi hàng và người nhận hàng, yêu cầu rằng trên vận tải đơn phải có chỉ định là chuyến hàng chịu sự chi phối của Quy tắc Hamburg giúp đảm bảo là Quy tắc sẽ chi phối chuyến hàng thậm chí tại những nước không phải là thành viên Công ưóc. Yêu cầu quy định tại Điều 15.1(1) có phần giống như các điều khoản của các Công ước quốc tế khác. Ví dụ, Điều 8 (c) của Nghị định thư sửa đổi, bổ sung Công ước Vácsava ngày 12-10-1919 về thống nhất các Quy tắc liên quan đến vận tải quốc tế bằng đường hàng không (gọi là Nghị định thư Hague ngày 28-9- 1955) đòi hỏi phải phát biểu rõ rằng Công ước Vácsava được áp dụng cho chuyến vận chuyển hàng không và bắt buộc tại Điều 9 rằng nếu thiếu lời phát biểu này người chuyên chở sẽ không được hưởng giới hạn trách nhiệm theo quy định của Công ước (điều này đã không được thông qua trong Quy tắc Hamburg). Công ước CMR cũng yêu cầu một lời phát biểu là chuyến hàng chịu sự chi phối của Công ước này. Theo Điều 7.3 Công ước CMR, người chuyên chở có trách nhiệm đối với mọi chi phí tổn thất hoặc tổn hại mà người có quyền lợi hàng hóa phải chịu do bỏ sót điều quy định trên.
Luật quy định trong Quy tắc Hamburg (Điều 23.4) đối với lỗi bỏ sót điều ghi chú thì người chuyên chở phải bồi thường cho người khiếu nại theo quy định bởi Quy tắc Hamburg nếu người khiếu nại phải chịu tổn thất là hậu quả của việc bỏ sót điều ghi chú trên. Hơn nữa, người chuyên chở còn phải bồi thường cho người khiếu nại những chi phí mà họ phải chịu khi họ thực hiện quyền của mình để đòi bồi thường theo Quy tắc Hamburg nhưng Quy tắc không được áp dụng bởi vì bỏ sót điều ghi chú đó.
3.2. Vận đơn hàng đã xếp
Nếu người gửi hàng yêu cầu một vận tải đơn "hàng đã xếp" sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu thì người chuyên chở có thể phát hành một vận đơn như vậy. Nếu người chuyên chở đã cấp một vận đơn "nhận để xếp" hoặc một chứng từ sỏ hữu khác, thì người gửi hàng phải giao lại chứng từ đó để đổi lấy vận đơn "hàng đã xếp" nếu người chuyên chở yêu cầu như vậy.
Một cách khác, thay vì phát hành một chứng từ mới, người chuyên chở có thể sửa đổi, bổ sung vào một vận đơn hoặc một chứng từ nào khác đã được phát hành (ví dụ bằng cách đóng dấu "Hàng đã xếp lên boong"), với điều kiện là sau khi được bổ sung vận đơn hay chứng từ này có đầy đủ thông tin mà một vận đơn "hàng đã xếp" phải có.
Theo Quy tắc Hamburg, vai trò của vận đơn "hàng đã xếp" chắc chắn là kém quan trọng hơn so với Quy tắc Hague, bởi vì người chuyên chở có trách nhiệm từ khi anh ta chịu trách nhiệm về hàng hóa ở cảng xếp hàng. Mặc dù vậy, theo truyền thống, vận đơn "hàng đã xếp" xác định một sự kiện thương mại quan trọng là hàng hóa đã được xếp lên boong của con tàu được chỉ định. Việc này sẽ giảm đi cùng với việc áp dụng ngày càng nhiều hơn Quy tắc mới của ICC thống nhất về thủ tục tín dụng chứng từ, vì Quy tắc này không đòi hỏi phải có vận đơn "hàng đã xếp".
3.3. Hiệu lực pháp lý
Điều 15.3 quy định rằng, sự thiếu một hoặc một vài chi tiết đã được liệt kê tại Điều 15.1 không ảnh hưởng đến tính hợp pháp của chứng từ với tư cách là một vận đơn miễn là nó đáp ứng được những yêu cầu nêu trong Điều 1 (7).
Rất hiếm khi điều khoản này được áp dụng, tuy nhiên nó đáp ứng việc giải thích những tình huống thực tế mà chưa được Quy tắc Hague giải quyết. Quy tắc Hague thiếu các điều khoản nói rõ ràng về những đòi hỏi tối thiểu về hiệu lực pháp lý của một vận đơn dẫn đến vấn đề đã được giải quyết theo những cách khác nhau tùy theo luật của các quốc gia.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập