1. Vật chứng thu được từ vụ án giết người cướp của có là tài sản thuộc sở hữu toàn dân hay không?
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định 29/2018/NĐ-CP, trong trường hợp vụ án giết người cướp tài sản đã được xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự, vật chứng thuộc nhóm tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân. Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản này sẽ được xử lý theo trình tự và thủ tục luật định. Quá trình xử lý tài sản thuộc nhóm được xác lập quyền sở hữu toàn dân thường bao gồm các bước chính:
- Tịch thu: Cơ quan chức năng sẽ tiến hành quyết định tịch thu tài sản liên quan vào vụ án giết người cướp tài sản. Quyết định này cần được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Xác định giá trị: Sau khi tịch thu, cơ quan chức năng sẽ xác định giá trị của tài sản, đồng thời lập biên bản xác nhận về tài sản đã tịch thu.
- Quyết định xử lý: Dựa trên thông tin về giá trị và loại hình tài sản, cơ quan chức năng sẽ đưa ra quyết định xử lý tài sản thuộc nhóm quyền sở hữu toàn dân theo các quy định của pháp luật.
- Công bố công khai: Quyết định về việc xử lý tài sản thuộc nhóm quyền sở hữu toàn dân sẽ được công bố công khai để đảm bảo minh bạch và quyền lợi của cộng đồng.
- Chuyển giao: Tùy thuộc vào quyết định xử lý, tài sản có thể được chuyển giao, sử dụng, hoặc bán đấu giá theo quy định của pháp luật để đảm bảo lợi ích cộng đồng.
Quy trình này nhằm đảm bảo rằng tài sản thuộc nhóm quyền sở hữu toàn dân được quản lý và sử dụng một cách hiệu quả và công bằng, đồng thời tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Tài sản nào được xác lập quyền sở hữu toàn dân?
Theo quy định của Điều 4 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017, tài sản công được phân loại thành nhiều loại khác nhau, trong đó Khoản 5 đề cập đến tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân. Cụ thể, loại tài sản này bao gồm:
- Tài sản bị tịch thu;
- Tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy, tài sản không có người nhận thừa kế và tài sản khác thuộc về Nhà nước theo quy định của Bộ luật Dân sự; tài sản do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước;
- Tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam theo cam kết sau khi kết thúc thời hạn hoạt động;
- Tài sản được đầu tư theo hình thức đối tác công tư được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng dự án
Theo quy định chi tiết tại Điều 106 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 và hướng dẫn của Điều 3 Nghị định 29/2018/NĐ-CP, tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân bao gồm các loại như sau:
- Tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật:
+ Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu.
+ Vật chứng vụ án, tài sản khác bị tịch thu theo quy định của pháp luật về hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự.
- Tài sản vô chủ, tài sản không xác định chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm:
+ Bất động sản vô chủ.
+ Tài sản bị đánh rơi, bỏ quên.
+ Tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm.
+ Di sản không người thừa kế.
+ Hàng hóa tồn đọng.
- Tài sản của quỹ xã hội, tài sản của quỹ từ thiện bị giải thể: Tài sản của quỹ bị giải thể.
- Tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hiến, biếu, tặng, đóng góp, viện trợ, tài trợ nhưng chưa hạch toán ngân sách: Tài sản do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.
- Tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam: Tài sản do doanh nghiệp chuyển giao không bồi hoàn.
- Tài sản được đầu tư theo hình thức đối tác công tư: Tài sản được chuyển giao theo hợp đồng dự án.
3. Cơ quan có thẩm quyền quyết định đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân?
Quy trình xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản, đặc biệt trong các trường hợp liên quan đến vụ án giết người cướp tài sản, được đề cập trong Luật Các tổ chức tín dụng 2017 và Nghị định 29/2018/NĐ-CP, có sự phân cấp thẩm quyền và tính chuyên nghiệp để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả.
- Việc xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được thực hiện thông qua quyết định tịch thu của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Việc xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với vật chứng vụ án, tài sản khác bị tịch thu theo quy định của pháp luật về hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự được thực hiện thông qua quyết định tịch thu của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự và pháp luật về thi hành án dân sự.
- Thẩm quyền quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản quy định được thực hiện theo phân cấp của Chính phủ, cụ thể:
Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản đối với:
+ Tài sản do tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam nhưng không xác định cụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận tài sản để sử dụng; trừ các tài sản quy định khác.
+ Tài sản do tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam là bất động sản, xe ô tô, các tài sản khác (không phải là bất động sản, xe ô tô) có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản chuyển giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương quản lý theo đề nghị của bộ, cơ quan trung ương.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản đối với tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng thuộc lĩnh vực quốc phòng do tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam.
Bộ trưởng Bộ Công an quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản đối với tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng thuộc lĩnh vực an ninh do tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản đối với tài sản của quỹ xã hội, tài sản của quỹ từ thiện do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định giải thể.
Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản đối với:
+ Tài sản do tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam chuyển giao cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan trung ương không thuộc phạm vi quy định.
+ Tài sản chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng dự án đối tác công tư đối với trường hợp cơ quan ký hợp đồng dự án thuộc trung ương quản lý sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Tài chính.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc người có thẩm quyền được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản đối với:
+ Tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm; bất động sản vô chủ; bất động sản không có người thừa kế; tài sản bị đánh rơi, bỏ quên là di tích lịch sử - văn hóa; tài sản của các vụ việc xử lý quy định tại khoản này bao gồm cả bất động sản hoặc di tích lịch sử - văn hóa và động sản.
+ Tài sản do tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam chuyển giao cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
+ Tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam theo cam kết sau khi kết thúc thời hạn hoạt động.
+ Tài sản của quỹ xã hội, tài sản của quỹ từ thiện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giải thể hoặc do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giải thể theo ủy quyền.
+ Tài sản chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng dự án đối tác công tư đối với trường hợp cơ quan ký hợp đồng dự án thuộc địa phương quản lý.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản đối với tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, di sản không người thừa kế không thuộc phạm vi quy định.
-Cục trưởng Cục Hải quan quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản đối với hàng hóa tồn đọng thuộc địa bàn hoạt động hải quan.
Quý khách xem thêm bài viết sau: Tìm hiểu về vật chứng - một nguồn chứng cứ quan trọng
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn