1. Vay vốn công ty mẹ nước ngoài lãi suất 0% có được không?

Căn cứ vào Điều 6 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP, quy định như sau:

- Phân tích và so sánh các giao dịch liên kết được thực hiện dựa trên nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế để xác định bản chất của các giao dịch liên kết:

+ Bản chất của các giao dịch được so sánh giữa các hợp đồng hoặc văn bản pháp lý, các thỏa thuận giữa các bên liên kết với thực tiễn thực hiện của các bên. Trong trường hợp người nộp thuế thực hiện giao dịch liên kết mà không có thỏa thuận bằng văn bản hoặc thỏa thuận không tuân theo nguyên tắc giao dịch độc lập, hoặc thực hiện không phù hợp với nguyên tắc giao dịch độc lập giữa các bên không có quan hệ liên kết, thì giao dịch liên kết phải được xác định theo đúng bản chất kinh doanh giữa các bên độc lập. Cụ thể là: Bên liên kết nhận doanh thu, lợi nhuận từ giao dịch liên kết với người nộp thuế phải có quyền sở hữu và kiểm soát rủi ro kinh doanh đối với các tài sản, hàng hóa, dịch vụ, nguồn lực, quyền lợi mang lại lợi ích kinh tế và các quyền tạo ra thu nhập từ cổ phần, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác, và người nộp thuế phát sinh chi phí từ giao dịch với bên liên kết phải nhận được lợi ích, giá trị kinh tế trực tiếp hoặc góp phần tạo ra doanh thu, giá trị gia tăng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế phù hợp với nguyên tắc giao dịch độc lập;

+ Bản chất của các giao dịch được xác định thông qua việc thu thập thông tin, chứng cứ, dữ liệu về giao dịch, rủi ro của các bên liên kết trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Phân tích và so sánh các giao dịch liên kết với giao dịch độc lập:

+ Căn cứ vào việc đối chiếu các hợp đồng, văn bản, thỏa thuận và các mối quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính trong các giao dịch liên kết của người nộp thuế là dữ liệu, thực tế thực hiện giao dịch giữa các bên liên kết để so sánh với các quyết định kinh doanh mà các bên độc lập có thể chấp nhận trong điều kiện tương đồng. Nguyên tắc đối chiếu này được áp dụng để coi trọng bản chất và thực tế kinh doanh, cũng như rủi ro mà các bên liên kết phải chịu, hơn là các thỏa thuận bằng văn bản;

+ Phải đảm bảo tính tương đồng giữa doanh nghiệp thực hiện giao dịch độc lập với doanh nghiệp có giao dịch liên kết hoặc giao dịch độc lập với giao dịch liên kết, không có yếu tố khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến mức giá; tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận giữa các bên. Trong trường hợp có yếu tố khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến mức giá; tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận, phải phân tích, xác định và thực hiện điều chỉnh loại trừ yếu tố khác biệt trọng yếu đó thông qua so sánh các yếu tố được quy định tại Điều 7, Điều 10 của Nghị định này và phù hợp với từng phương pháp xác định giá giao dịch liên kết quy định tại Điều 13, Điều 14, Điều 15 của Nghị định này.

 

2. Quy định về lựa chọn đối tượng so sánh độc lập

Căn cứ vào quy định tại Điều 7 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP, chúng ta có các điểm sau:

- Lựa chọn đối tượng so sánh độc lập nội bộ đòi hỏi việc chọn lựa giao dịch của người nộp thuế so với bên không có quan hệ liên kết, đảm bảo sự tương đồng mà không có bất kỳ sự khác biệt nào ảnh hưởng đến mức giá, tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận giữa các bên. Trong trường hợp không có đối tượng so sánh độc lập nội bộ tương đồng, thì sẽ chọn lựa đối tượng so sánh theo các điểm b và c của khoản 3 điều 17 của Nghị định này. Việc so sánh giữa giao dịch liên kết và giao dịch độc lập được thực hiện dựa trên từng giao dịch đối với từng sản phẩm tương đồng. Trong trường hợp không thể so sánh giao dịch theo sản phẩm, việc gộp chung các giao dịch cần đảm bảo phù hợp với bản chất, thực tiễn kinh doanh và áp dụng phương pháp xác định giá của giao dịch liên kết theo quy định tại Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15 của Nghị định này.

- Dữ liệu tài chính, kinh doanh của các đối tượng so sánh cần đảm bảo tính tin cậy để sử dụng cho mục đích kê khai, tính thuế, phù hợp với các quy định về kế toán, thống kê và thuế. Thời điểm phát sinh giao dịch của các đối tượng so sánh độc lập cần phải cùng thời điểm hoặc có năm tài chính tương ứng với năm tài chính của người nộp thuế, trừ trường hợp cần thiết mở rộng thời gian so sánh theo quy định tại Điều 9 của Nghị định này. Định dạng dữ liệu cần đảm bảo có thể so sánh, tính toán được các mức giá tại thời điểm giao dịch hoặc trong cùng kỳ tính thuế; dữ liệu so sánh về tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận cần đảm bảo ít nhất là ba kỳ tính thuế liên tục. Đối với các giá trị tỷ suất, tỷ lệ tương đối, người nộp thuế làm tròn số đến chữ số thứ hai sau dấu thập phân. Trong trường hợp số tương đối được lấy từ các số liệu công bố không có số tuyệt đối đi kèm và không sử dụng nguyên tắc làm tròn này thì sẽ lấy theo số liệu đã công bố có trích dẫn nguồn.

- Số lượng tối thiểu đối tượng so sánh độc lập được chọn sau khi phân tích, so sánh và điều chỉnh khác biệt trọng yếu được lựa chọn như sau: 01 đối tượng trong trường hợp giao dịch liên kết hoặc người nộp thuế thực hiện giao dịch liên kết và đối tượng so sánh độc lập không có khác biệt; 03 đối tượng trong trường hợp đối tượng so sánh độc lập có khác biệt nhưng có đủ thông tin, dữ liệu để loại trừ tất cả các khác biệt trọng yếu; và 05 đối tượng trong trường hợp chỉ có thông tin, dữ liệu đủ để loại trừ hầu hết các khác biệt trọng yếu của đối tượng so sánh độc lập.

Dựa theo quy định trên, quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết cần tuân thủ quy định về mức lãi suất thỏa thuận trong giao dịch vay vốn giữa công ty tại Việt Nam và công ty mẹ ở nước ngoài, phải phù hợp với mức lãi suất thị trường.

 

3. Vấn đề thuế nhà thầu đối với khoản vay nước ngoài như thế nào?

Dựa trên quy định tại khoản 3 của Điều 7 trong Thông tư 103/2014/TT-BTC, thu nhập phát sinh tại Việt Nam của Nhà thầu nước ngoài và Nhà thầu phụ nước ngoài được xác định như sau:

Thu nhập này bao gồm các khoản thu nhập nhận được dưới mọi hình thức dựa trên các hợp đồng nhà thầu và hợp đồng nhà thầu phụ (trừ trường hợp quy định tại Điều 2 Chương I). Quan trọng là thu nhập này không phụ thuộc vào địa điểm thực hiện hoạt động kinh doanh của Nhà thầu nước ngoài và Nhà thầu phụ nước ngoài. Cụ thể, thu nhập chịu thuế của họ trong một số trường hợp cụ thể bao gồm:

- Thu nhập từ lãi tiền vay: Đây là thu nhập mà bên cho vay thu được từ các khoản vay, không kể việc khoản vay có được đảm bảo bằng thế chấp hay không, và không quan trọng việc người cho vay có được lợi tức từ người vay hay không.

- Thu nhập từ lãi tiền gửi (trừ lãi tiền gửi của các cá nhân người nước ngoài và lãi tiền gửi phát sinh từ tài khoản tiền gửi để duy trì hoạt động tại Việt Nam của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam), bao gồm cả các khoản thưởng kèm theo lãi tiền gửi (nếu có).

- Thu nhập từ lãi trả chậm theo quy định của các hợp đồng.

- Thu nhập từ lãi trái phiếu, chiết khấu giá trái phiếu (trừ trái phiếu miễn thuế), tín phiếu của kho bạc.

- Thu nhập từ lãi chứng chỉ tiền gửi.

Dựa trên phân tích trên, việc áp dụng mức lãi suất 0% khi vay vốn từ công ty mẹ ở nước ngoài cần phải được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thị trường. Điều này là cần thiết để tránh vi phạm các quy định về quản lý thuế, đặc biệt là theo quy định tại khoản 1 của Điều 50 trong Luật Quản lý thuế 2019.

Theo quy định này, người nộp thuế có thể bị ấn định thuế khi vi phạm các quy định về thuế, bao gồm những hành vi sau:

- Không đăng ký thuế, không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không đầy đủ, trung thực, chính xác về căn cứ tính thuế.

- Không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế.

- Không xuất trình sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu cần thiết liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp trong thời hạn quy định.

- Không chấp hành quyết định thanh tra thuế, kiểm tra thuế theo quy định.

- Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường.

- Mua, trao đổi hàng hóa sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn mà hàng hóa là có thật theo xác định của cơ quan có thẩm quyền và đã được kê khai doanh thu tính thuế.

- Có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thuế.

- Thực hiện các giao dịch không đúng với bản chất kinh tế, không đúng thực tế phát sinh nhằm mục đích giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.

- Không tuân thủ quy định về nghĩa vụ kê khai, xác định giá giao dịch liên kết hoặc không cung cấp thông tin theo quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có phát sinh giao dịch liên kết.

Do đó, việc cho vay với lãi suất 0% có thể dẫn đến vi phạm các quy định về thuế và bị ấn định thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019.

Bài viết liên quan: Hỏi về thủ tục vay vốn công ty mẹ ở nước ngoài 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Vay vốn công ty mẹ nước ngoài lãi suất 0% được không? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!