1. Vi phạm tai nạn giao thông gây hậu quả chết người xử lý ra sao?

Gia đình tôi có người thân bị tai nạn giao thông , người gây tai nạn đi sai luật và bỏ trốn và công an đã tìm được. Cơ quan công an có gọi gia đình tôi ký giấy tờ. Hỏi trong trường hợp này gia đình tôi phải làm gì và người vi phạm bị xử lý sao?
Cảm ơn!

Vi phạm tai nạn giao thông gây hậu quả chết người xử lý ra sao?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về xử lý tai nạn giao thông chết người, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Trong trường hợp này thì người gây tai nạn giao thông do đi sai đường nên đã gây tai nạn chết người.

Theo quy định tại Điều 260 Bộ Luật Hình sự năm 2015 về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trong trường hợp này, người gây tại nạn do không tuân thủ quy định của pháp luật về an toàn giao thông nên đã gây ra hậu quả làm chết một người, trong trường hợp người đó đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì người đó đủ điều kiện cấu thành tội vi phạm quy định về giao thông đường bộ. Gia đình bạn có thể khởi kiện người đó về tội này theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều  260 đã nêu trên.

Việc bồi thường thiệt hại:

Nếu người vi phạm có bồi thường thiện hại thì có thể coi đó là một tình tiết giảm nhẹ tội

Quy định tại Điều 591 Bộ Luật Dân sự năm 2015:

“Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Như vậy, pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về vấn đề bồi thường nhưng phải đảm bảo đó là một mức bồi thường hợp lý, thuận tình và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của các bên.

>> Tham khảo thêm:  Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe gây tai nạn giao thông bồi thường như thế nào?

2. Tai nạn giao thông gây tử vong khi người bị tai nạn sang đường không quan sát, không có bằng lái xe thì trách nhiệm thuộc về ai ? 

Xin chào luật sư. Tôi có tình huống muốn nhờ luật sư tư vấn dùm: về rồi cậu tôi có đi xe máy gây tai nạn, người bị tai nạn sang đường không quan sát, người này không có bằng lái xe. Sau tai nạn, người này bị gãy chân, được cậu tôi đưa vào viện, mổ và đóng đinh xong đã tỉnh, ăn uống bình thường nhưng ko biết vì lý do gì sau đó bị tử vong. Xin nhờ luật sư, trong tình huống này cậu tôi bị xử lý như thế nào ? 
Xin chân thành cảm ơn luật sư.
- Võ Sĩ Lam

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

3. Tư vấn về trách nhiệm bồi thường sau khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Chuyện là cách đây không lâu em có điều khiển xe và gây tai nạn cho 2 học sinh cấp 2 cũng điều khiển xe máy trên đường. Em 18 tuổi và có đủ bằng lái, giấy tờ xe. Khi công an giao thông vào việc thì nói là bên em sai hoàn toàn và phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. 

Tông xe một tháng rưỡi tới giờ công an mới xử, lúc gia đình em lên nhà kia để thương lượng để bồi thường thì bên kia nặng nhẹ gây khó dễ, họ kêu là phải cho con họ hoàn toàn khỏi bệnh mới được, còn phải đi bệnh viện quốc tế gì đó để siêu âm, họ nói là bên em phải đợi thêm mấy tháng nữa họ mới giải quyết.

Mặc dù từ khi bị tai nạn tới giờ con họ đã khỏe hẳn và đi học đi chơi bình thường. Lúc bị tai nạn thì con họ chỉ bị nằm viện 1, 2 tuần rồi về vì bác sĩ kêu chỉ bị chấn thương phần mềm. Giờ gia đình em đã xuống nước hết mức mà gia đình người ta vẫn làm khó dễ.

Luật sư cho e hỏi là qua sự việc như vậy thì gia đình em có làm gì được nữa không ? Hay người ta nói sao phải nghe vậy, bắt đợi là phải đợi ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N. T

Tư vấn về trách nhiệm bồi thường sau khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho công ty. Vấn đề của bạn công ty xin được giải đáp như sau:

Về vấn đề của bạn liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cụ thể là hành vi gây tai nạn giao thông. Theo đó, việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp này do hai bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trách nhiệm bồi thường của bạn được quy định như sau:

Theo quy định của bộ luật dân sự tại điều 604 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì người nào có lỗi do cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại tới tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người khác thì phải bồi thường thiệt hại cho người đó. ( khoản 1 điều 604 BLDS 2005).

Như vậy, ở đây nếu đã kết luận được yếu tố có lỗi thuộc về bạn thì về nguyên tắc bạn sẽ phải bồi thường.

Bên cạnh đấy bạn cũng có quyền chứng minh lỗi thuộc về bên kia nếu bạn có đủ căn cứ. Nếu lỗi thuộc về bên kia thì bạn chỉ phải bồi thường trong phạm vi lỗi của mình. Nếu thiệt hại hoàn toàn về bên bị thiệt hại thì bạn không phải  bồi thường. Theo quy định tại điều 617 Bộ Luật dân sự 2005 (Bộ Luật dân sự năm 2015):

"Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường".

Về năng lực phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì bạn đã đủ tuổi chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Bạn phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản riêng của mình. Nếu bạn không có tài sản riêng thì bố mẹ bạn có thể bồi thường thay bạn, nhưng điều này luật không bắt buộc. Theo quy định tại khoản 1 điều 606 BLDS 2005:" Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường".

Mức bồi thường thiệt hại sẽ được tính như sau:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định".

Tham khảo thêm quy định tại Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP Hướng dẫn áp dụng về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Các chi phí này sẽ do bên bị thiệt hại kê khai và họ sẽ phải có các giấy tờ chứng minh được các khoản họ kê khai là hợp pháp. Nếu như các bên không thoả thuận được mức bồi thường có thể khởi kiện ra Toà án và thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày xảy ra sự việc.

>> Xem thêm:  Mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông được xác định dựa trên những tiêu chí, căn cứ pháp luật nào ?

4. Gây tai nạn giao thông bị phạt 2 năm tù liệu khán án có được án treo hay không ?

Anh tôi có lái xe máy kéo theo xe đẩy phía sau đi giao hàng thì không may đâm phải xe lăn thì dẫn đến chết người. Nhưng anh tôi đã thành khẩn khai báo với công an và đã bồi thường cho phía gia đình bị hại. Được bên phía gia đình bãi nại nhưng khi ra toà lại bị phạt 2 năm tù giam. Như vậy phía gia đình chúng tôi khán án có được cho an treo hay không ?
- Trần Thị Thuỳ Trang

 

5. Trách nhiệm khi gây tai nạn giao thông của người dưới 18 tuổi ?

Chào luật sư Minh Khuê. Tôi có 1 người anh trai bị tai nạn giao thông vào ngày 15/7/2016 và người gây tai nạn là nam thanh niên chưa đủ 18 tuổi. Tại hiện trường tai nạn nam thanh niên kia đã được gia đình họ đưa đi cấp cứu, bỏ mặc anh trai tôi nằm ở đấy nên a trai tôi đã không qua khỏi dù đã đưa đi cấp cứu sau đó, tôi rất bức xúc với hành động đó. Công an giao thông đã kiểm tra hiện trường tai nạn, lập biên bản. Hiện đang trong thời gian xác định đúng sai làn đường giữa 2 bên. Xin hỏi luật sư là nếu có kết quả anh trai tôi đi đúng phần đường của mình thì bên kia có bị truy tố về trách nhiệm hình sự không. Trách nhiện dân sự thì xử lý như thế nào. Xin hỏi đơn gửi lên cơ quan công an và các thủ thục liên quan ra sao?

Trách nhiệm khi gây tai nạn giao thông của người dưới 18 tuổi ?

Đua xe là một trong những lỗi gây tai nạn giao thông nguy hiểm 

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi vấn đề tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề bạn đưa ra chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

...”

Nam thanh niên sẽ bị truy tố về trách nhiệm hình sự theo điều 202, Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 nêu trên nếu xác định được lỗi của thanh niên này là nguyên nhân trực tiếp đến vụ tai nạn và cái chết của anh bạn.

Về trách nhiệm dân sự:

Bạn nam thanh niên kia đã vi phạm độ tuổi sử dụng phương tiện giao thông theo luật giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 điều 60:

a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3;

b) Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi;

Nếu trong trường hợp lỗi là do nam thanh niên kia dẫn tới tai nạn giao thông thì người đó sẽ phải bồi thường thiệt hại cho anh bạn như sau:

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại đó là phải bồi thường toàn bộ và kịp thời. Điều 606, Bộ luật Dân sự 2005 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường

2. Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Trong trường hợp này, nam thanh niên kia chưa đủ 18 tuổi nên nếu có tài sảnriêng thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, không đủ thì cha mẹ sẽ bù vào để bồi thường. Nếu có người giám hộ thì người giám hộ dùng tài sản của bạn nam kia gây tai nạn bồi thường, nếu không có thì bồi thường bằng tài sản của người giám hộ.

Về mức bồi thường sẽ theo điều 610, Bộ luật Dân sự 2005:

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Trong trường hợp này, nam thanh niên kia khi gây ra lỗi thì sẽ phải bồi thường chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc cho anh trai bạn trước khi chết và chi phí mai táng sau khi anh trai bạn chết. Bạn có thể gửi đơn đến cơ quan công an để giải quyết và phải tùy vào kết quả điều tra của công an mới có thể xác định được lỗi là do bên nào và có phải truy cứu trách nhiệm hình sự hay không hay chỉ chịu trách nhiệm dân sự.

>> Xem thêm:  Gây tai nạn giao thông cần bồi thường những chi phí nào ?

6. Quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Bồi thường là việc khắc phục một phần hậu quả do lỗi của mình gây ra, việc bồi thường trong tai nạn giao thông là vấn đề xảy ra khá phổ biến. Trong chuyên đề này, Luật Minh Khuê giới thiệu và giải đáp một số vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực giao thông đường bộ về bồi thường thiệt hại:

Quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Trả lời:

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chứng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Thưa luật sư ! Tôi năm nay 26 tuổi làm công nhân lái cẩu. trong một lần lao động tôi gây tai nạn chết người và bị tòa án tuyên phạt 6 tháng tù giam . Tôi nghe có người nói sao không bồi thường tai nạn một lần để không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nay tôi xin hỏi luật sư là có luật này không. Hiện tại gia đình bên bị hại cũng đã viết đơn bãi nại cho tôi và không đòi hỏi gì thêm. Mong luật sư tư vấn cho tôi sớm nhất có thể . Xin chân thành cám ơn

 Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015)

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

>> Như vậy trong trường hợp bạn gây ra thiệt hại về tính mạng cho người khác thì bạn phải bồi thường theo quy định tại Điều 610 Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Đơn bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện, có nghĩa là không còn thưa kiện nữa. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là không bị xử lý hình sự. Dựa theo quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ không xử lý đối với 11 tội danh:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 104 - Bộ luật Hình sự).

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 - Điều 105 - Bộ luật Hình sự). - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 - Điều 106 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 - Điều 108 - Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (Bộ luật hình sự năm 2015Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)).

 - Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 - Điều 109 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội hiếp dâm (Khoản 1 - Điều 111 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội cưỡng dâm (Khoản 1 - Điều 113 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội làm nhục người khác (Khoản 1 - Điều 121 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội vu khống (Khoản 1 - Điều 122 - Bộ luật Hình sự).

 - Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 - Điều 131 - Bộ luật Hình sự).

 -Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 - Điều 171 - Bộ luật Hình sự).

>> Như vậy trong trường hợp này của bạn không thuộc vào các tội trên nên bạn sẽ không được miễn trách nhiệm hình sự ngay cả trong trường hợp có đơn bãi nại của gia đình người bị hại

Và khoản1, 2 Điều 105 Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131  171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

>> NHư vậy vì vụ án này đã được tòa án thụ lý và quyết định bản án có hiệu lực pháp luật rồi nên bạn bắt buộc phải chấp hành hình phạt tù theo bản án.

Xin vui lòng cho biết nghĩa vụ cấp dưỡng của người gây tai nạn giao thông trong trường hợp sau đây: A gây tai nạn giao thông làm bà B chết Bà B có 2 con chưa đủ 18 tuổi và chồng của B là người trực tiếp nuôi dưỡng Hỏi: A phải cấp dưỡng cho cả hai con của B đến khi đủ 18 tuổi hay chỉ phải cấp dưỡng một nửa? (Nửa còn lại thuộc trách nhiệm của chồng bà B? Trân trọng.

Theo quy định tại Điều 604 và Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Và thiệt hại về sức khỏe phải được bồi thường theo quy định

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Điều 612. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm

1. Trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường cho đến khi chết.

2. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng trong thời hạn sau đây:

a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

b) Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

>>Như vậy theo quy định tại khoản 2a Điều 612 Bộ luật dân sự thì A phải có nghĩ vụ cấp dưỡng cho con của B đến khi đến đủ 18 tuổi

Theo quy định tại khoản 2.3 Nghị quyết 03/2006 Hướng dẫn về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Như vậy A sẽ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của B, tuy nhiên Luật không quy định cụ thể là A phải cấp dưỡng một nửa hay chồng của B phải cấp dưỡng một nửa cho con,Nghĩa vụ cấp dưỡng này tuân theo sự thảo thuận của hai bên và căn cứ thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Luật sư tư vấn giúp. Tại đoạn đường đang thi công chưa đươc đưa vào sử dụng, Xe ô tô tải do tôi điều khiển đổ vật liệu xây dựng ở đó, sau khi nâng ben để đổ đá từ thùng xe xuống do ko quan sát phía trên do đó thành thùng xe chạm vào đường điện cao thế gây hỏng xe và đường điện. Đây có được coi là tai nạn giao thông không?. Cám ơn luật sư!

Theo từ điển Tiếng Việt thì Tai nạn giao thông là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản.xe tải do bạn điều khiển không quan sát khi đổ vật liệu và là hư hỏng xe và đường điện . Vì bạn không nói rõ xe của bạn có đang trong quá trình di chuyển trên đường giao thông hay không để xác định nếu xe của bạn không trong quá trình di chuyển mà gây thiệt hại cho người và tài sản thì đây chỉ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự

Xin chào luật sư. E có 1 vài vấn đề muốn hỏi luật sư. Vợ E mới bị tai nạn giao thông vào ngày 13-3-2016 và đã tử vong.vợ e đi đúng làn đường quy định. Đúng tốc độ.Và bị chiếc xe đầu kéo đi cùng chiều cán vào. Hiện tại gia đình e đã mai táng xong cho vợ e. E co 2 cháu nhỏ .cháu lớn 3tuổi cháu nhỏ 1 tuổi. E muốn hỏi luật sư gia đình e được bồi thường như thế nào. Và tài xế có trách nhiệm gì với 2 cháu nhỏ nhà e k? Mong được phản hồi.

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Và thiệt hại về sức khỏe phải được bồi thường theo quy định

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

> Như vậy gia đình bạn sẽ được bồi thường Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;Chi phí hợp lý cho việc mai táng;Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. và ngoài ra gia đình bạn được bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con bạn

Theo quy định tại khoản 2.3 Nghị quyết 03/2006 Hướng dẫn về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

>> Người gây ra tai nạn cho vợ bạn vừa phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tính mạng và có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của vợ chồng bạn. số tiền bồi thường và cấp dưỡng hàng tháng sẽ do hai bên thỏa thuận có căn cứ vào thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Dạ anh chị cho e hỏi? Bạn e xảy ra một vụ tai nạn giao thông. Gây ra hậu quả nghiêm trọng (chết người). Trong lúc điều khiển bạn e có sử dụng rượu bia. Cho e hỏi trường hợp như vậy thì pháp luật xử như thế nào ạ? Đã gửi từ iPhone của tôi

Theo quy định tại Điều 202 Bộ Luật hình sự có quy định về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, như sau:

“1,Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a, Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b, Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c, Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d, Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiemj vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ, Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.” 

 Như vậy bạn của bạn vi phạm quy định tại khoản 2a Điều 202 Bộ luật hình sự và sẽ bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm ngoài ra bạn của bạn vẫn phải bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn chết người theo quy định của Bộ luật dân sự bên trên theo Điều 610 Bộ luật dân sự năm 2005

Tôi có vấn đề xin được luật sư giúp đỡ: Vừa qua tôi bị tai nạn giao thông gãy 1/3 xương đùi trái dưới và liên lồi cầu đùi trái. tôi đã phẫu thuật đóng đinh. Để hưởng chế độ bảo hiểm tôi phải đến cơ quan Giám định y khoa; kết quả bên Giám định y khoa là: gãy 1/3 xương đùi trái dưới là 10%, liên lồi câu 10% ba vết thẹo do phẫu thuật là 3%. với kết quả trên chưa thuyết phục. Nên tôi gửi nội dung này kính mong được văn phòng luật sư Minh Khuê giúp đỡ cho tôi hiểu thêm. Với cách tính tỉ lệ thương tật của cơ quan Giám định y khoa thành phố Cà Mau như vậy đã chính xác chưa? Để biết cách tính trên, tôi cần tìm hiểu văn bản pháp luật nào?

Theo quy định tại Thông tư liên tịch 18/2013 Quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể thương tích bệnh tật hệ Cơ-Xương -Khớp

6.5. Gẫy đầu trên xương đùi

 

6.5.1. Can liền tốt, trục thẳng, nhưng có teo cơ

26 - 30

6.5.2. Can liền xấu, trục lệch, cơ teo nhiều, chi ngắn dưới 4cm, chức năng khớp háng bị hạn chế

31 - 35

6.5.3. Can liền xấu, trục lệch, cơ teo nhiều chi ngắn trên 4cm

41 - 45

6.5.4. Gẫy cổ xương đùi gây tiêu chỏm

51

6.5.5. Mất đoạn xương hoặc không liền xương tạo thành khớp giả cổ xương đùi

 

6.5.5.1. Khớp giả chặt

41 - 45

6.5.5.2. Khớp giả lỏng lẻo

51

6.6. Trật khớp háng hoặc gẫy cổ xương đùi, đã phẫu thuật thay chỏm nhân tạo

35

6.7. Gẫy thân xương đùi ở 1/3 giữa hoặc dưới đã điều trị ổn định

 

6.7.1. Can liền tốt, trục thẳng, chức phận chi bình thường

21

6.7.2. Can liền xấu, trục lệch

26 - 30

6.7.3. Can xấu, trục lệch, chi ngắn dưới 4cm

31 - 35

6.7.4. Can xấu, trục lệch, chi ngắn trên 4cm

41

6.8. Gẫy đầu dưới xương đùi gần sát lồi cầu sau điều trị có di chứng hạn chế vận động khớp gối: Áp dụng tỷ lệ cứng khớp gối Mục 7.11 trong bảng này

Như vậy theo như bạn nói bạn bị tai nạn giao thông gãy 1/3 xương đùi trái dưới và liên lồi cầu đùi trái.bạn đến cơ quan Giám định y khoa; kết quả bên Giám định y khoa là: gãy 1/3 xương đùi trái dưới là 10%, liên lồi câu 10% . Như vậy dõ dàng kết quả giám định so với bảng quy định về tỷ lệ thương tích như của bạn là sai. Bạn hãy căn cứ vào mức độ thương tật của mình để xác định tỷ lệ thương tích theo bảng quy định bên trên

Ngày mùng 1 tết em với bạn xuống nhà thăm bạn gái. Khi đi về em chạy xe của bạn gái em để chở bạn gái. Bạn em chạy xe em về, bạn em chưa có GPLX. gần về tới nhà xảy ra tai nạn giao thông. Bạn em đã tử vong tại chổ, còn hai người cọ quẹt kia không bị gì hết. Em không chứng kiến tại hiện trường tai nạn không biết ai đụng ai. Nhưng cho em hỏi nếu như vậy em có phải là người chịu trách nhiệm hình sự đối với tính mạng của bạn em không?. Bồi thường tổn hại cho người bên kia nữa không? Em rất lo nhờ luật sư giúp đỡ. Chân thành cảm ơn! Đảo

Theo quy định của Bộ luật hình sự hình sự về Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205 Bộ luật Hình sự)

“1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”'

Như vậy mặc dù ban cho bạn mình điều khiển chiếc xe máy của bạn, nhưng nếu bạn của bạn không gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bạn cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định trên.

Thứ hai về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đòng theo quy định của Bộ luật dân sự thì áp dụng cho cả lỗi cố ý và vô ý gây thiệt hại về tính mạng sức khỏe cho người khác thì đều phải bồi thường và trách nhiệm bồi thường được thực hiện theo quy định tại Điều 610 Bộ luật dân sự 2005 như trên

Trên đường đi làm, Tôi có bị ngã xe và gãy 2 xương cánh tay ( Tôi tự ngã không va chạm vào ai). Tôi cũng đã báo đến công ty để làm thủ tục hưởng TNLĐ, Tôi cũng đã được hướng dẫn để làm giấy tờ hồ xơ đầy đủ. Trong hồ sơ của tôi có cái Biên bản tai nạn giao thông do bên công an cấp là tuyến xã, phường nơi tôi bị ngã, vì thế có bị trả lời là không được hợp lệ và tôi không được hưởng chế độ TNLĐ. Vậy cho tôi hỏi có qui định nào hay thông tư nào qui định dõ về biên bản tai nạn giao thông được phép cấp khi bị như trường hợp của tôi không?

 Theo quy định tại Điều 39 Luật bảo hiểm xã hội quy định về điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động như sau:
Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;
b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;
2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này.

Các vụ tai nạn lao động đều phải được điều tra và lập biên bản kể từ khi xảy ra theo thời hạn quy định tại Điều 10 Thông tư 12/2012 Thông tư liên tịch của Bộ lao động - Thương binh và xã hội - Bộ y tế:
Điều 5. Khai báo tai nạn lao động

1. Khi xảy ra tai nạn đối với người lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi quản lý của cơ sở hoặc khi thực hiện công việc, nhiệm vụ khác theo sựphân công của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động uỷ quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động thì người bị tai nạn hoặc người biết sự việc (người lao động, người quản lý) phải báo ngay cho người sử dụng lao động biết.

 2. Đối với các vụ tai nạn nêu tại khoản 1 Điều này làm chết người hoặc làm từ hai người bị tai nạn nặng trở lên thì cơ sở để xảy ra tai nạn phải khai báo bằng cách nhanh nhất (trực tiếp hoặc điện thoại, fax, công điện, thư điện tử) với Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh), cơ quan Công an cấp huyện nơi xảy ra tai nạn và cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp của cơ sở (nếu có) theo nguyên tắc:

a) Tai nạn xảy ra ở tỉnh nào thì khai báo tại tỉnh đó;

b) Trường hợp người bị tai nạn chết trong thời gian điều trị hoặc chết do tái phát của chính vết thương do tai nạn lao động (theo kết luận tại biên bản khám nghiệm pháp y) thì cơ sở có người bị chết phải khai báo với Thanh tra Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh nơi có Đoàn điều tra tai nạn lao động đã tham gia điều tra vụ tai nạn đó, để giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật;

c) Tai nạn xảy ra trong các lĩnh vực: phóng xạ; thăm dò, khai thác dầu khí; các phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không ngoài việc phải khai báo với Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh nơi cơ sở đặt trụ sở chính còn phải khai báo với Bộ, ngành quản lý lĩnh vực đó;

d) Nội dung khai báo theo mẫu quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này.

3. Tai nạn xảy ra khi người lao động tham gia giao thông (trừ các trường hợp xảy ra trên tuyến đường thuộc nội bộ cơ sở) làm chết người hoặc làm từ hai người bị tai nạn nặng trở lên thì cơ sở có người bị nạn căn cứ vào hồ sơ giải quyết vụ tai nạn của cơ quan Cảnh sát giao thông xử lý vụ tai nạn giao thông đóhoặc giấy xác nhận của chính quyền địa phương hoặc giấy xác nhận của Công an khu vực tại nơi xảy ra tai nạn để khai báo vớiThanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh.

Việc khai báo phải thực hiện đúng theo nguyên tắc được quy định tại khoản 2 Điều này.

 Như vậy bạn hãy căn cứ vào các quy định trên để đi khai báo tai nạn giao thông để được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động

Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Quyết định 18/2007 QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN Ban hành Quy trình điều tra
giải quyết tai nạn giao thông đường bộ

Điều 5. Khám nghiệm hiện trường

3. Lập biên bản khám nghiệm hiện trường theo quy định của Luật tố tụng hình sự.

Như vậy khi bị tai nạn giao thông bạn cần phải báo cáo với cơ quan công an để tiến hành lập biên bản tai nạn giao thông làm căn cứ để làm hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động

Chào luật sư: em lái xe ôtô gây tai nạn giao thông, xe em lại vừa hết kiểm định mà em lại không có gplx vậy em xẽ bị xử phạt như thế nào?

Theo Nghị định 171/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, người điều khiển xe ô tô (bao gồm cả rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo theo) và các loại xe tương tự xe ô tô khi thực hiện hành vi vi phạm: “Điều khiển xe không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với loại xe có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc)” sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trọng 01 tháng (quy định tại Điểm c Khoản 4, Điểm a, Khoản 6, Điều 16). Đồng thời cũng phạt tiền từ 2 đến 3 triệu đồng đối với người điều khiển xe ô tô(bao gồm cả cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) và các loại xe tương tự xe ô tô khi không có giấy đăng ký xe theo quy định của pháp luật( Khoản 4a Điều 16 Nghị định 171/2013)

Thứ hai về vấn đề bạn gây tai nạn giao thông vì bạn không nói rõ bạn gây tai nạn giao thông như thế nào nên bạn có thể bồi thường theo quy định tại Điều 609, Điều 610 Khi gây thiệt hại đến sức khỏe và tính mạng của người khác. Hoặc bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự nếu gây thiệt hại đến tính mạng của người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe tài sản của người khác

Điều 202 Bộ luật Hình sự quy định về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:

“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp hoặc bạn có thể liên hệ với gmail :

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật giao thông đường bộ - Công ty luật Minh Khuê