1. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi

Ngày 25/5/2022, Bộ NN-PTNT tổ chức Hội nghị Tập huấn sử dụng phần mềm cập nhật cơ sở dữ liệu thức ăn chăn nuôi (TĂCN) và phổ biến các quy định pháp luật hiện hành lĩnh vực TĂCN.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về chuyển đổi số, Bộ NN-PTNT đã phối hợp với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) - đối tác công nghệ thông tin giàu kinh nghiệm với mạng lưới rộng khắp 63 tỉnh/thành phố để xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về nông nghiệp.

Đây là bước đi quan trọng của ngành để gắn sản xuất nông nghiệp với thị trường, giúp việc cập nhật, kết nối, chia sẻ thông tin nhanh chóng, tiện lợi, đồng thời giúp công tác điều tiết, định hướng sản xuất và kiểm soát chất lượng nông sản.

Trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất, định hướng phát triển ngành theo Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045 cũng như nhu cầu của công tác quản lý chăn nuôi theo Luật Chăn nuôi 2018, Cục Chăn nuôi được giao là đơn vị chủ trì tổ chức triển khai, phối hợp với VNPT tổ chức thực hiện thí điểm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về chăn nuôi.

Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi sẽ là nền tảng giúp kết nối, chia sẻ thông tin chủ động hai chiều giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp chăn nuôi và người chăn nuôi. Hệ thống này sẽ giúp cập nhật chính xác, kịp thời thông tin về cơ sở chăn nuôi, tổng đàn vật nuôi, sản lượng sản phẩm chăn nuôi, TĂCN và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Giai đoạn đầu, Cục Chăn nuôi sẽ phối hợp chặt chẽ với VNPT tập trung xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đối với các cơ sở chăn nuôi, cơ sở sản xuất TĂCN thí điểm tại một số địa phương, doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, sẽ có tổng kết, đánh giá và hoàn thiện hệ thống trước khi nhân rộng, triển khai trên phạm vi cả nước.

Phần mềm cập nhật cơ sở dữ liệu chăn nuôi là bước đột phá trong công cuộc chuyển đổi số của ngành nông nghiệp nói chung và của ngành chăn nuôi nói riêng.

Trong chuyển đổi số, bước đầu tiên cần phải thu thập và số hóa dữ liệu, bước thứ hai là số hóa quy trình. Dựa trên những dữ liệu và quy trình đó, công tác khai thác, điều hành mới có thể được triển khai một cách sâu hơn.

Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi là cơ sở quan trọng cho việc nâng cao năng lực quản lý, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức phát triển chăn nuôi theo định hướng, tín hiệu, nhu cầu của thị trường, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chất lượng, an toàn thực phẩm chăn nuôi nhằm nâng cao giá trị, sức cạnh trạnh của sản phẩm chăn nuôi Việt Nam.

Đối với các doanh nghiệp, đây chính là cơ hội để cập nhật thông tin thị trường và marketing sản phẩm, kết nối, hợp tác với khách hàng. Hệ thống cơ sở dữ liệu này sẽ giúp người chăn nuôi nắm bắt thông tin thị trường đầu ra, thông tin về chất lượng con giống, TĂCN, giá bán, dịch vụ cung ứng vật tư, thông tin về dịch bệnh để đưa ra quyết định phù hợp.

2. Việc khai thác dữ liệu về giống vật nuôi trong cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi được quy định thế nào?

Căn cứ theo Điều 9 Thông tư 20/2019/TT-BNNPTNT quy định về khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi như sau:

- Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối xây dựng, cập nhật dữ liệu quốc gia về chăn nuôi cấp trung ương, cấp tỉnh được quyền khai thác dữ liệu quốc gia về chăn nuôi theo phân cấp.

- Tổ chức, cá nhân được khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi quy định tại Điều 3, 4, 5, 6 và 7 Thông tư 20/2019/TT-BNNPTNT

Theo đó, việc khai thác dữ liệu về giống vật nuôi trong cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi được quy định như sau:

- Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối xây dựng, cập nhật dữ liệu quốc gia về chăn nuôi cấp trung ương, cấp tỉnh được quyền khai thác dữ liệu quốc gia về chăn nuôi theo phân cấp.

- Tổ chức, cá nhân được khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi quy định tại Thông tư 20/2019/TT-BNNPTNT.

3. Kết nối người chăn nuôi với thị trường qua cơ sở dữ liệu về chăn nuôi

Theo lộ trình xây dựng nền tảng cơ sở dữ liệu (CSDL) nông nghiệp, nông thôn, năm 2022, Bộ NN&PTNT đã chọn 2 lĩnh vực đột phá là trồng trọt và chăn nuôi để đẩy mạnh chuyển đổi số.

Trong đó, Hệ thống cơ sở dữ liệu về chăn nuôi là cơ sở quan trọng cho việc nâng cao năng lực quản lý, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức phát triển chăn nuôi theo định hướng, tín hiệu, nhu cầu của thị trường, đồng thời, kiểm soát chặt chẽ chất lượng, an toàn thực phẩm chăn nuôi nhằm nâng cao giá trị, sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi Việt Nam.

Hệ thống cũng là nền tảng giúp kết nối, chia sẻ thông tin chủ động 2 chiều giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp chăn nuôi và người chăn nuôi; giúp cập nhật chính xác, kịp thời thông tin về cơ sở chăn nuôi, tổng đàn vật nuôi, sản lượng sản phẩm chăn nuôi, thức ăn chăn nuôi và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Theo số liệu ghi nhận, chăn nuôi Việt Nam phát triển với tốc độ tương đối cao đạt 6,0 - 7,0%/năm, góp phần quan trọng vào duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành, đảm bảo sinh kế cho gần 10 triệu nông hộ, an ninh thực phẩm cho gần 100 triệu dân, đóng góp 25,2 GDP ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi vẫn gặp không ít bất cập như: mô hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ chiếm đa số; công tác quản trị kém làm giảm năng suất, tăng giá thành sản phẩm chăn nuôi; quy mô ứng dụng chuyển đổi số còn cá biệt, đơn lẻ… Trước những thách thức đó, việc chuyển đổi số ngành chăn nuôi mà trước mắt là xây dựng Hệ thống thông tin, CSDL về chăn nuôi và xem đây là một trong những bước đi đầu tiên chuyển đổi số nền nông nghiệp.

Xác định rõ CSDL là yếu tố quan trọng nhất trên hành trình chuyển đổi số nông nghiệp, Để có hệ thống CSDL thức ăn chăn nuôi và CSDL cơ sở chăn nuôi, Cục Chăn nuôi đã phối hợp với Tập đoàn VNPT xây dựng, hoàn thiện phần mềm làm công cụ thu thập, cập nhật, khai báo. Đến nay, phần mềm CSDL chăn nuôi đã cơ bản được đưa vào vận hành thử nghiệm với 60 chức năng và giao diện chính. Hệ thống này giúp cập nhật chính xác, kịp thời thông tin về cơ sở chăn nuôi, tổng đàn vật nuôi, sản lượng sản phẩm chăn nuôi, thị trường tiêu thụ sản phẩm …. Hệ thống cũng cho phép thiết lập mã định danh cho các cơ sở chăn nuôi, cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi trên phạm vi cả nước. Đây là yếu tố quan trọng giúp ngành chăn nuôi ổn định sản lượng, kiểm soát chất lượng, tăng tính cạnh tranh và phát triển bền vững.

Việc vận hành chính thức hệ thống CSDL chăn nuôi giúp kết nối, chia sẻ thông tin chủ động hai chiều giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp và người chăn nuôi, gắn kết sản xuất với thị trường tiêu thụ. CSDL chính là minh bạch hóa thông tin; phân tích được thông tin giữa năng lực sản xuất và nhu cầu thị trường nhằm đưa ra các dự báo, cảnh báo và chỉ đạo sản xuất phù hợp với thực tiễn. CSDL còn tạo nên kênh thông tin về thị trường vật tư đầu vào cũng như sản phẩm đầu ra để doanh nghiệp, người chăn nuôi tiếp cận, tối ưu hóa chi phí sản xuất, lên kế hoạch sản xuất sát với nhu cầu thị trường, tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm. Đồng thời cho phép thực hiện truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm chăn nuôi.

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Quy định về xuất khẩu, nhập khẩu giống vật nuôi, sản phẩm giống vật nuôi của Luật Minh Khuê.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Việc khai thác dữ liệu về giống vật nuôi trong cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi được quy định thế nào? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!