- 1. Chồng bị thiểu năng trí tuệ vợ có được ly hôn ?
- 2. Quyền nuôi con của người mẹ sau khi ly hôn?
- 3. Ly hôn và giành quyền nuôi con khi ly hôn như thế nào?
- 3.1. Vấn đề xác định con chung
- 3.2. Vấn đề giành quyền nuôi con khi ly hôn
- 3.3. Vấn đề đăng ký khai sinh cho con
- 4. Đi xuất khẩu lao động có mất quyền nuôi con sau ly hôn được không?
- 5. Quyền nuôi con khi vợ chồng ly hôn giải quyết thế nào?
- 6. Cha đã từng có tiền án sau khi ly hôn có được quyền nuôi con không?
1. Chồng bị thiểu năng trí tuệ vợ có được ly hôn ?
Nhà chồng không muốn nhận chị vì họ thấy chị đi làm không đủ tiền nuôi gia đình. Bên gia đình mình muốn giành quyền nuôi một cháu thì cần phải làm những thủ tục gì? Xin cảm ơn!
Người gửi: HN. Anh
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời:
Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."
Trong trường hợp này, chồng chị bạn bị thiểu năng trí tuệ nhưng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với con. Vì vậy, vợ chồng chị bạn (đại diện là bố, mẹ hoặc canh chị em ruột vì chị bạn cũng như anh rể bạn không có đầy đủ khả năng nhận thức) có thể thỏa thuận về việc nuôi con sau ly hôn, nếu không thỏa thuận được thì Tòa sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con và xem xét nguyện vọng của người con (do hai con đã từ đủ 07 tuổi) để quyết định giao con cho ai trực tiếp nuôi. Nếu trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
>> Tham khảo thêm: Phân định quyền nuôi con sau khi ly hôn?
2. Quyền nuôi con của người mẹ sau khi ly hôn?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn, theo thông tin mà bạn cung cấp, con của bạn mới 17 tháng tuổi, do đó, bạn là người được trực tiếp nuôi con theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Để thực hiện quyền này của mình, trước hết bạn làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nơi vợ chồng bạn cư trú. Sau khi giải quyết việc ly hôn, Tòa án sẽ có quyết định giao con cho bạn để bạn trực tiếp nuôi con, nhưng bạn phải chứng minh mình đủ điều kiện, đủ khả năng và bạn có đủ thời gian để có thể chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
>> Xem ngay: Quyền nuôi con và sở hữu tài sản khi ly hôn?
3. Ly hôn và giành quyền nuôi con khi ly hôn như thế nào?
Trả lời:
3.1. Vấn đề xác định con chung
Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
"Điều 88. Xác định cha, mẹ
1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định."
Như vậy, Luật hôn nhân gia đình quy định, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Do đó, nếu bạn muốn xác định là con riêng để ngăn cản các quyền tương ứng của chồng bạn sau ly hôn thì phải chứng minh và phải cung cấp chứng cứ khi vụ kiện ly hôn của ha người xảy ra ở Tòa án.
3.2. Vấn đề giành quyền nuôi con khi ly hôn
Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 vấn đề quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn thì con bạn hiện nay đang dưới 36 tháng tuổi (cháu mới được 01 tuổi) thì Tòa án sẽ giao con cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng, nếu bạn không có đủ điều kiện, khả năng nuôi dưỡng con nhưng chồng bạn lại có khả năng nuôi dưỡng cháu thì Tòa án có thể vẫn giao con cho chồng bạn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho con bạn.
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cho phép một bên vợ/chồng nộp đơn xin ly hôn đơn phương như sau:
"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."
Theo quy định này, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, nếu như thuận tình ly hôn thì Tòa án xem xét sự thuận tình, tự nguyện của các bên, còn đơn phương ly hôn thì Tòa án lại xem xét chủ yếu căn cứ mà bên đơn phương ly hôn đưa ra. Theo đó, bạn có thể nộp đơn xin ly hôn mà không cần phụ thuộc vào ý chí của bố mẹ chồng hay chồng mình. Vấn đề quyền nuôi con sẽ do Tòa án cân nhắc, xem xét và ra quyết định.
Dựa trên thông tin bạn cung cấp, trên Giấy đăng ký kết hôn của bạn có ghi nghề nghiệp là sinh viên nhưng hiện tại chỉ cần bạn có việc làm, có thu nhập ổn định thì vẫn được xem là cơ sở để giành quyền nuôi dưỡng con, việc bạn chưa ra trường không ảnh hưởng đến việc giành quyền nuôi con của bạn. Để giành quyền nuôi con bạn nên chứng minh với Tòa án rằng mình có khả năng nuôi con, có thể cho con điều kiện sống tốt hơn khi con sống với chồng. Mặt khác, như bạn nói, chồng bạn không phải bố đẻ của bé, bạn có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án xác định chồng bạn không phải cha ruột của con bạn làm cơ sở để ngăn cản các quyền tương ứng của người cha đối với con.
3.3. Vấn đề đăng ký khai sinh cho con
Theo quy định tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch:
"Điều 15. Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ
1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.
2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.
3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.
4. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.
5. Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ."
Theo đó, bạn có thể đăng ký khai sinh cho con mà để trống cột thông tin về người cha khi và chỉ khi có quyết định của Tòa án về việc người chồng hiện nay không phải là cha đẻ của con bạn, còn ngược lại, vì con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa hai vợ chồng bạn nên về nguyên tắc tên cha của cháu trên Giấy khai sinh là tên của người chồng hiện nay của bạn, không được bỏ trống.
4. Đi xuất khẩu lao động có mất quyền nuôi con sau ly hôn được không?
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyên qua điện thoại, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Về quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con của cha, mẹ sau khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:
"Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan."
Như vậy, dù không phải người trực tiếp nuôi con nhưng chống cũ của bạn vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con.
Theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và Gia đình 2014:
"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."
Theo như thông tin mà bạn cung cấp, chồng cũ của bạn đã có hành vi lạm dụng quyền thăm nom cháu, liên tục gây phiền phức cho hai mẹ con và đòi đón cháu đi nơi khác 2 đến 3 ngày biểu hiện việc không tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Về quyền của người trực tiếp nuôi con, khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
"Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình."
Do đó, bạn có quyền yêu cầu chồng cũ của bạn không được đón cháu đi nơi khác cũng như yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chồng cũ bạn.
Về vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, nếu chồng bạn đưa ra được những bằng chứng để chứng minh bạn không còn đủ khả năng, đủ điều kiện để có thể trực tiếp chăm sóc con của bạn thì chồng bạn có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
..."
>> Xem thêm: Cần phải làm gì để dành được quyền nuôi con khi tiến hành thủ tục ly hôn?
5. Quyền nuôi con khi vợ chồng ly hôn giải quyết thế nào?
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại, gọi:1900.6162
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, căn cứ thông tin mà bạn cung cấp, thời điểm mà bạn và T không còn sống chung là khi bé H khoảng 2 tuổi rưỡi. Tuy nhiên, bạn không nói rõ hiện tại bé H bao nhiêu tuổi nên chúng tôi không thể tư vấn cụ thể cho bạn về vấn đề này. Do đó, nếu tại thời điểm bạn và T ly hôn mà bé H còn dưới 36 tháng tuổi thì bạn là người được Tòa án ưu tiên trực tiếp nuôi nếu bạn có đủ điều kiện, đủ khả năng đển nuôi con. Trong Trường hợp, bé H từ 36 tháng tuổi trở lên đến dưới 07 tuổi thì Tòa án căn cứ vào các yếu tố từ hai bên vợ chồng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của con bạn để quyết định việc ai là người được trực tiếp nuôi con, nếu H từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của H. Khi xem xét ai sẽ là người có quyền nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau với mục đích tìm được người có thể đáp ứng tối đa yêu cầu cho sự phát triển của đứa trẻ. Nhìn chung Tòa án sẽ dựa trên 3 yếu tố sau:
+ Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;
+ Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ.
+ Nguyện vọng của con: Con mong muốn được ở với ai (chỉ áp dụng với con từ đủ 7 tuổi trở lên).
Như vậy, nếu bạn có thể chứng minh được việc bạn có đủ các điều kiện về vật chất, tinh thần để chăm sóc, nuôi dưỡng bé H tốt hơn so với T hoặc chứng minh được việc T không đủ điều kiện để trở thành người trực tiếp nuôi dưỡng bé H (việc T sử dụng ma túy đá có thể ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần của bé nếu T là người trực tiếp nuôi dưỡng) thì bạn hoàn toàn có khả năng giành được quyền nuôi con.
>> Xem thêm: Hướng dẫn giải quyết tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn?
6. Cha đã từng có tiền án sau khi ly hôn có được quyền nuôi con không?
Thưa luật sư! gia đình chúng tôi cùng con trai tôi rất tha thiết được xin nuôi cháu nội tôi vì xét điều kiện 2 bên gia đình, tôi thấy không yên tâm khi để gia đình bên con dâu tôi nuôi cháu tôi. Con dâu tôi lên 04 tuổi mẹ cháu đã bỏ cháu sang Trung Quốc lấy chồng không hợp pháp bên đó. Hiện nay, nơi con dâu tôi sinh sống ở thôn X huyện Y, vô cùng thiếu thốn, con dâu tôi ở với dì, các bác đều không có chồng già cả, yếu đau, tài sản không có gì. Con dâu tôi thì mới đi học cắt tóc, gội đầu, làm thuê cho chủ ở thành phố X, lương thấp lại xa nhà để cháu tôi ở nhà với bác và dì. Bà ngoại phải từ Trung Quốc về trông cháu ngoại cho con gái đi làm. Còn gia đình tôi là một gia đình tri thức, đang sinh sống ở HN, vợ chồng tôi đều về hưu, có lương, có nhà cửa đàng hoàng. Chúng tôi ở cùng con trai tôi. Chúng tôi thu nhập khá có nhà và cửa hàng cho thuê. Riêng con trai tôi từ khi ra trại, nó đoạn tuyệt hoàn toàn với ma túy không thuốc lá, thuốc lào, không rượu chè, cờ bạc rất tu chí làm ăn, (có sự giám sát của công an nơi sinh sống). Thưa luật sư! con trai tôi và chúng tôi mong muốn được nuôi cháu bé để chăm chút cho cháu ngay từ nhỏ để cháu được sống trong môi trường giáo dục tốt có đầy đủ về vật chất và tinh thần? Xin cảm ơn Luật sư!
Trả lời:
Theo thông tin bạn cung cấp, khi con trai bạn đi tù, con dâu đem con sang Trung Quốc. Và hiện tại vợ chồng con bạn muốn ly hôn nhưng không thỏa thuận được việc nuôi con. Cháu bé đang sống với mẹ. Con trai bạn đã từ có tiền án tiền sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ quy định trên, việc nuôi con sau khi ly hôn do vợ chồng tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo phán quyết của Tòa án, căn cứ vào mọi mặt quyền lợi của con. Nếu con đã 07 tuổi trở lên, phải xem xét nguyện vọng của con. Nếu con dưới 36 tháng tuổi thì người mẹ được ưu tiên hơn, trừ trường hợp người mẹ không đủ khả năng nuôi dưỡng, giáo dục con.
Thông tin bạn cung cấp là thông tin một chiều, Tòa án sẽ xem xét tình hình thực tế, hơn nữa con trai bạn đã từng có tiền án, tiền sự, điều này có làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc, giáo dục con hay không? Theo đó, đề có thể giành quyền nuôi con cho con trai bạn, trong đơn ly hôn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con, đồng thời có thể đưa ra các chứng cứ chứng minh phía bên con trai bạn có điều kiện cả về vật chất và tinh thần để đảm bảo việc chăm sóc, giáo dục con tốt hơn người mẹ. Điều kiện vật chất như: hoàn cảnh gia đình, tình hình kinh tế, tài chính. Điều kiện tinh thần: thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con được phát triển, vui chơi, trình độ học vấn của cha...
Bên nào đưa ra được những điều kiện đó là hợp lý và có cơ sở thì Tòa án sẽ phán quyết bên đó được nuôi con. Giả sử Tòa giải quyết cho con trai bạn được quyền nuôi con, gia đình bạn không được quyền cản trở việc thăm nom, nuôi dưỡng của mẹ cháu bé. Bởi quyền nuôi con vẫn có thể được thay đổi ngay cả sau khi đã có phán quyết của Tòa án, nếu có căn cứ cho rằng bên nhận nuôi con không thể chăm sóc, giáo dục được con như đã cam kết.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê