Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
2. Luật sư tư vấn:
Căn cứ theo Điều 68 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khi một người đã mất tích được 2 năm thì Tòa án có thể xem xét tuyên bố người mất tích.
Điều 68. Tuyên bố mất tích
1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
...
3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Để được Tòa án công nhận mất tích, người có quyền, lợi ích liên quan cần gửi đơn yêu cầu lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người mất tích cư trú để Tòa án xem xét, tuyên bố người mất tích. Khi xét thấy đủ căn cứ theo Luật định (mất tích được 2 năm, đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không có hiệu quả), Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là mất tích.
Khi một người đã được Tòa án tuyên bố là mất tích, vợ hoặc chồng của người bị mất tích có thể tiến hành ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vợ hoặc chồng tiến hành nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi hai vợ chồng cư trú. Sau khi đã có tuyên bố của Tòa án về việc ly hôn, việc phân chia tài sản được tiến hành theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ sở hữu chung tài sản của vợ chồng. Theo đó, nếu thời gian trước khi người chồng hoặc vợ mất tích, giữa hai người không có thỏa thuận về tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thì Tòa án tiến hành phân chia tài sản theo nguyên tắc chia đôi. Nếu có thỏa thuận hợp pháp thì tiến hành phân chia theo thỏa thuận.
Tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha mẹ của ngườ đó quản lý, nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê