1. Chồng có quyền giành lại quyền nuôi khi vợ ra nước ngoài làm việc?

Thưa luật sư, Tôi và cô ấy ly hôn đã 2 năm và tòa phán quyết cho cô ấy có quyền nuôi con. Gần đây tôi biết cô ấy chuẩn bị sang Hàn quốc làm việc (hoặc học tập gì đó) vậy tôi có quyền khởi kiện giành lại quyền nuôi con được không? Xin luật sư tư vấn cụ thể. Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 84, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

"1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Căn cứ theo quy định trên, khi xét thấy có đủ căn cứ về việc mẹ cháu bé không đủ điều kiện và khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng con thì bạn sẽ có quyền nộp đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đến Tòa án nhân dân nơi có thẩm quyền.

Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc như thế nào là không đủ điểu kiện, khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng con. Do đó, để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của bạn được Tòa án chấp thuận thì bạn cần phải đưa ra các chứng cứ xác thực chứng minh về việc vợ bạn không còn đủ điều kiện và khả năng tốt nhất để nuôi con. Ví dụ như các yếu tố về: thu nhập, thời gian chăm sóc con, nơi ở, tư cách đạo đức, các yếu tố khác....

Về thủ tục cụ thể, bạn tham khảo nội dung tư vấn tương tự của chúng tôi tại bài viết sau: Hướng dẫn giành quyền nuôi con sau khi ly hôn quy định mới

2. Câu hỏi thường gặp về giành lại quyền nuôi con

Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì nếu hai bên có thoả thuận hoặc bên đang trực tiếp nuôi con không đảm bảo việc chăm sóc con sau khi ly hôn thì một bên có quyền yêu cầu toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Trong quá trình tư vấn, giải quyết việc tranh chấp tại toà án, Luật Minh Khuê tổng hợp một số câu hỏi trực tiễn của người dân về vấn đề này như sau:

 

2.1 Chồng không cấp dưỡng tiền nuôi con vợ phải làm gì?  

Thưa luật sư, Tôi với chồng tôi li dị nay gần 3 năm rồi, lúc ra tòa li hôn thì trong giấy thỏa thuận li hôn thì có ghi trợ cấp nuôi con hàng tháng là 1,000,000 /1 tháng Chồng tôi chỉ trợ cấp đúng 1 tháng đầu ...về sau là không có trợ cấp nữa. Có khi tôi nhắn tin hỏi tại sao không gửi tiền cho con ăn học, thì chồng tôi nói rằng: đưa tiền cho mày , mày nuôi con hay nuôi trai. Từ đó tôi cũng không đòi nữa. Nhưng giờ tôi nghĩ đó là lợi ích của con tôi nên tôi muốn chồng tôi phải chu cấp để con tôi còn ăn học nữa? Mong luật sư giải đáp dùm, Trân trọng!

Trả lời: Căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 107, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng: "Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con...". Đồng thời tại khoản 2, điều 82 của Luật này cũng quy định về Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: "2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con."

Nếu người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì căn cứ điều 119 của Luật hôn nhân gia đình có quy định người được cấp dưỡng có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Do vậy, Bạn có thể gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án đối với bản án, quyết định của Tòa án.

Căn cứ Điều 30 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014 về thời hiệu yêu cầu thi hành án và Điều 35 về thẩm quyền giải quyết việc thi hành án theo thì cơ quan thi hành án có nghĩa vụ bảo đảm bản án của toà án đã ban hành có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tiễn. Theo đó chồng của bạn phải thi hành án theo quy định của của pháp luật về thi hành án dân sự. Nếu không tự nguyện thi hành án (theo điều 45), thì sẽ bị cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 46 của Luật này.

2.2 Mẹ chồng có được quyền nuôi con sau khi ly hôn không?

Thưa luật sư. Tôi tên N. Tôi xin hỏi luật sư như sau: tôi là 1 cán bộ viên chức nhà nước, thu nhập bình quân thấp nhất của tôi là 3tr 800.000đ. Hiện tôi đã có vợ và 1 đứa con gái 9 tháng tuổi.tôi công tác xa gia đình tôi,hiện tại đang ở cùng gia đình vợ tôi. Chúng tôi dự định tháng 2 năm nay ra ở riêng. Vợ tôi là một người chưa có việc làm, chỉ ở nhà trông nhờ vào gia đình mẹ vợ.

Do nhiều vấn đề xảy ra như: cha tôi vừa mất, vừa chôn xong là muốn vào cùng tôi, 49 ngày giỗ của ba tôi cũng không muốn về, việc gì cũng nhờ ba mẹ cô ấy, cô ấy chưa hiểu biết nhiều về chăm con,và làm dâu cho nên chúng tôi xảy ra cãi nhau. Giờ tôi muốn hỏi luật sư tư vấn. Khi ly hôn tôi có được quyền nuôi con hay không? Nếu cô ấy nuôi con tôi được quyền lợi như thế nào? Nếu cô ấy không yêu cầu trợ cấp cho con đến năm 18 tuổi. Tôi rất thương con và muốn chăm sóc cho con. Nếu mẹ tôi vào giữ và chăm sóc cho bé có được hay không? Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cám ơn luật sư.

Trả lời:

Tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, trong trường hợp của bạn, bạn có thể trao đổi, thỏa thuận với vợ về vấn đề ly hôn. Nếu vợ bạn đồng ý, và cả hai bên cùng tiến hành thủ tục thuận tình ly hôn, thì lúc này Tòa án xem xét giải quyết cho ly hôn. Còn trong trường hợp vợ bạn không đồng ý, thì bạn không có quyền yêu cầu ly hôn, vì theo quy định tại khoản 3 Điều luật trên, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang nuôi con duới 12 tháng tuổi.

Nếu vợ bạn đồng ý, thì khi ly hôn, quyền nuôi con được Tòa án giải quyết dựa trên căn cứ quy định tại Điều 81, Luật Hôn nhân gia đình về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn.

Nếu vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con, thì Tòa án sẽ giải quyết theo thỏa thuận. Nếu không thể thỏa thuận, thì đối với trường hợp của bạn, con bạn hiện chỉ mới 9 tháng tuổi nên sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ khi mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Điều kiện trực tiếp nuôi con ở đây không chỉ tính đến yếu tố kinh tế, mà còn có các yếu tố khác: như điều kiện sức khỏe, thời gian, điều kiện về mặt tinh thần. Bởi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, bên nào không trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn thì có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con. Khoản nghĩa vụ cấp dưỡng này do các bên thỏa thuận, nếu không thể thỏa thuận, Tòa án giải quyết dựa trên căn cứ thực tế cho phù hợp với quyền và lợi ích cho con.

>> Tham khảo:  Con trên 3 tuổi thì quyền nuôi con thuộc về ai khi có tranh chấp?

2.3 Quyền nuôi con khi con mới 06 tháng tuổi thuộc về ai?

Trả lời: Căn cứ Điều 28, 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trường hợp ly hôn của bạn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Có thể chia thủ tục ly hôn thành 02 trường hợp:

  • Trường hợp hai vợ chồng thỏa thuận được tất cả những vấn đề (ly hôn, tài sản, con cái), Tòa án sẽ thực hiện theo thủ tục ly hôn thuận tình. Tòa án ra quyết định công nhận ly hôn.
  • Trường hợp vợ chồng không đồng thuận một trong các các vấn đề (quan hệ vợ chồng, quyền nuôi con, cấp dưỡng, tài sản) thì thực hiện theo thủ tục ly hôn đơn phương, Tòa án sẽ tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

Đối với trường hợp của bạn, vợ chồng bạn đang có con 6 tháng tuổi nên nếu bạn là chồng thì bạn không có quyền yêu cầu ly hôn. Bởi vì theo quy định tại Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 : "Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi." Nhưng pháp luật không cấm việc người vợ tiến hành thủ tục ly hôn.

Thủ tục thuận tình ly hôn:

  • Bước 1: Nộp hồ sơ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn tại TAND cấp quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng.
  • Bước 2: Sau khi nhận đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ thụ lý giải quyết và sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng lệ phí Toà án cho người đã nộp đơn.
  • Bước 3: Căn cứ thông báo của Toà án, đương sự nộp tiền tạm ứng lệ phí tại Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai nộp tiền cho Tòa án.
  • Bước 4: Tòa án mở phiên họp công khai để giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.
  • Bước 5: Toà án ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn.

Thủ tục đơn phương ly hôn :

  • Bước 1: Vợ hoặc chồng nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND cấp quận/huyện nơi bị đơn (chồng hoặc vợ) đang cư trú, làm việc.
  • Bước 2: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ thụ lý giải quyết vụ án và sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho người đã nộp đơn.
  • Bước 3: Căn cứ thông báo của Toà án, đương sự nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.
  • Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc Quyết định giải quyết vụ án.

Về án phí ly hôn: Hiện nay, mức án phí Tòa án được quy định tại Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch là 300.000 đồng

Về quyền nuôi con: Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.  Trường hợp của bạn đang có con 6 tháng tuổi, nên theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, bé sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Tuy nhiên, Tòa án sẽ xem xét xem liệu người mẹ có đủ điều kiện nuôi con, đảm bảo được lợi ích của con hay không hoặc trao quyền nuôi con theo sự thỏa thuận chính đáng của bố mẹ sao cho phù hợp với lợi ích của con.

Về việc thuê luật sư riêng hỗ trợ giải quyết ly hôn: Bạn hoàn toàn có thể thuê luật sư riêng để dễ dàng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ việc ly hôn. Phí dịch vụ giải quyết ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật luật sư năm 2006, Việc tính phí thuê luật sư giải quyết việc ly hôn tại toà án chủ yếu do các bên tự nguyện thoả thuận.

2.4 Nghĩa vụ trợ cấp tiền nuôi con sau ly hôn?

Trả lời: Trước hết, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn  áp dụng theo quy định của điều 81, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Như vậy, căn cứ vào độ tuổi của con để phân chia quyền nuôi con thuộc về ai. Với trường hợp, con từ 3-7 tuổi, tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để giao con cho một bên cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi; căn cứ vào khả năng nuôi dưỡng cũng như thu nhập, vật chất, tinh thần của cha mẹ như thế nào để giao con cho một bên nuôi.

Còn đã đủ 3 tuổi thì anh chị có quyền ngang nhau trong việc dành quyền nuôi con. Để được quyền nuôi con anh sẽ chứng minh trước Tòa về mức thu nhập, sức khỏe, thời gian, tình cảm, Tòa án sẽ cân nhắc và xem xét cho chồng hoặc vợ có quyền nuôi con hay không.

Vấn đề trợ cấp nuôi dưỡng con sau ly hôn căn cứ quy định tại khoản 2, điều 82 của luật hôn nhân gia đình thì": "2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con."

Lưu ý:

  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  • Mức cấp dưỡng do các bên tự nguyện thoả thuận dựa trên khả năng thực tế và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Phương thức cấp dưỡng: Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ điều 7 của Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

a) Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

b) Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các Khoản 2,3,4,5 Điều 59 vá các Điều 60,61,62 và 64 của Luật Hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

2. Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

3. Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

4. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

5. Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

6. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!