1. Giới thiệu

Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp dân sự được khuyến khích áp dụng nhằm giảm tải cho hệ thống toà án và tiết kiệm thời gian, chi phí cho các đương sự Hòa giải có thể tiến hành tại cơ sở hoặc hòa giải tại Tòa án. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do tính chất phức tạp của vụ án hoặc do mâu thuẫn gay gắt giữa các đương sự, việc hòa giải không thể thực hiện được thì sẽ lựa chọn những phương thức khác để giải quyết tranh chấp. Vậy, vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được thì giải quyết thế nào?

 

2. Các trường hợp vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

Các trường hợp không hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được như sau:

Thứ nhất, các trường hợp không hòa giải ở cơ sở

Căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 15/2014/NĐ-CP thì không hòa giải các trường hợp sau:

- Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

- Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội;

- Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ các trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 Nghị định 15/2014/NĐ-CP;

- Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính, trừ các trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 5 Nghị định 15/2014/NĐ-CP;

- Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở 2013, bao gồm:

+ Hòa giải tranh chấp về thương mại được thực hiện theo quy định của Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

+ Hòa giải tranh chấp về lao động được thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ hai, không tiến hành hòa giải tại Tòa án. Trong lĩnh vực pháp luật dân sự, quy định về việc tiến hành hòa giải đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, không phải mọi vụ án dân sự đều phù hợp để áp dụng phương pháp hòa giải. Theo Điều 207 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đã được quy định rõ những trường hợp nào không thể tiến hành hòa giải được.

Một trong những trường hợp quan trọng được nêu rõ là khi bị đơn, người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

Ngoài ra, trường hợp mà đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng cũng là một yếu tố quan trọng khiến quá trình hòa giải không thể tiến hành. 

Điều quan trọng khác là khi một trong các đương sự trong vụ án là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn và là người mất năng lực hành vi dân sự. Trong tình huống này, việc hòa giải có thể không áp dụng được do sự vắng mặt của một trong hai bên đối với quá trình hòa giải.

Cuối cùng, một trong những trường hợp phổ biến khác là khi một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải. Lý do đề nghị này có thể là do sự không đồng ý hoặc muốn tiếp tục với quá trình giải quyết bằng các phương thức khác như tranh chấp tại toà án.

Tóm lại, việc không tiến hành hòa giải trong các vụ án dân sự có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như sự phản đối, không đồng ý, hoặc những ràng buộc pháp lý đặc biệt. Quy định rõ ràng về những trường hợp này trong Bộ luật Dân sự giúp đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự

 

3. Giải quyết vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

Theo quy định, hòa giải có thể tiến hành tại cơ sở và tại Toà án. Trong trường hợp có những vụ án bắt buộc phải hòa giải cơ sở nhưng không thành thì tiến hành nộp đơn lên Tòa án để giải quyết  nhưng phải kèm theo biên bản hòa giải không thành tại cơ sở. Còn đối với những vụ án không bắt buộc hòa giải tại Tòa án, Tại phiên tòa, các bên cũng trải qua hòa giải tại Tòa theo quy định như sau trường hợp không hòa giải thành Tòa án sẽ ra quyết định hòa giải không thành sau 7 ngày các bên không có ý kiến gì thay đổi Tòa án sẽ mở phiên tòa để xét xử.

Trong trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được, quy trình giải quyết vụ án sẽ tuân theo quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Điều 208 của Bộ luật này quy định về việc tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Cụ thể:

- Thẩm phán sẽ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho các bên liên quan về thời gian, địa điểm và nội dung của phiên họp.

- Nếu vụ án không thể hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này, Thẩm phán sẽ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.

- Đối với các vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, quy trình xử lý cần bảo đảm tính thân thiện và phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

- Trong trường hợp vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, đồng thời Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên.

Tóm lại, trong trường hợp không thể hòa giải được, Thẩm phán sẽ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

 

4. Mức thù lao khi tiến hành hòa giải tại Tòa

Theo quy định của Nghị định 16/2021/NĐ-CP và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, mức thù lao của Hòa giải viên năm 2023 được xác định dựa trên tính chất và kết quả của phiên hòa giải, đối thoại. Cụ thể:

- Vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án: Hòa giải viên được hưởng mức thù lao từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng cho mỗi vụ việc.

- Vụ việc mà người nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu rút đơn khởi kiện; đơn yêu cầu: Mức thù lao là từ 500.000 đồng đến dưới 1.000.000 đồng cho mỗi vụ việc.

- Trường hợp không đạt được thỏa thuận, thống nhất hoặc chỉ thỏa thuận, thống nhất được một phần vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính nhưng phần đó có liên quan đến những phần khác của vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính; một bên hoặc các bên không đồng ý tiếp tục hòa giải, đối thoại hoặc vắng mặt sau 02 lần được thông báo hợp lệ về việc hòa giải, đối thoại; trong quá trình hòa giải, đối thoại phát hiện vụ việc thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án; một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp Khẩn cấp tạm thời trong quá trình hòa giải, đối thoại: Mức thù lao là 500.000 đồng cho mỗi vụ việc.

Những mức thù lao này được quy định cụ thể để khuyến khích và công nhận công việc của Hòa giải viên trong quá trình giải quyết các vụ việc hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Bài viết liên quan: Phân tích các trường hợp vụ án dân sự không hòa giải được

Nội dung trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng!