1. Giới thiệu

Năm 1862, sau khi xuất bản những tác phẩm đầu tiên về khí tượng học, Jevons phát triển áp dụng các nguyên tắc khoa học vào khoa học thống kê thương mại. Luận văn đầu tiên của ông với nhan đề “On the Study of Periodic Commercial Fluctuations,” được trình bày cùng với luận văn lý thuyết đầu tiên của ông gửi đến cuộc họp của Hiệp hội Anh năm 1862. Trong đó Jevons phân tích sự thay đổi trong các biến số: tỉ lệ chiết khấu bình quân, 1845 đến 1861 và 1825 đến 1861, tổng số những vụ phá sản, 1806 đến 1860, giá công trái chính phủ bình quân, 1845 đến 1860; và giá lúa mì bình quân, 1846 đến 1861. Jevons trình bày số liệu của mình theo đồ thị, và kết luận dữ liệu nên sắp xếp theo cách như thế để giải thích tốt nhất những khía cạnh lý thú nhất đối với mục đích của người nghiên cứu. Trong tư cách là một nhà khám phá đầu tiên sự biến động theo mùa, Jevons nhận xét:

“Mỗi loại biến động theo chu kỳ, cho dù hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý hay hàng năm phải được tìm hiểu và đưa ra, không chỉ như đối tượng của chính nghiên cứu, mà còn bởi lẽ chúng ta phải khẳng định và loại trừ những biến đổi như thế trước khi chúng ta đưa ra chính xác những gì thất thường hay không mang tính chu kỳ, và có lẽ là quan trọng và lý thú hơn”. (Investigations, trang 4).

Jevons đưa ra nhiều giải thích khác nhau đối với sự biến động theo mùa trong các dữ liệu khác nhau của ông, áp dụng xử lý tính trừu tượng khoa học trong công trình lý thuyết của mình.

2. Loạt giá và chỉ số

Một trong những luận văn thống kê quan trọng của Jevons là “A Serious Fall in the Value of Gold Ascertained and Its Social Effects Set Forth” (1863). Trong đó Jevons muốn áp dụng đề xuất chung cho rằng “một món hàng có khuynh hướng giảm giá trị khi được cung cấp dồi dào hơn và dễ dàng hơn trước đây” đối với những phát hiện ra mỏ vàng trong thời điểm ấy ở châu úc và California. Nhà kinh tế học người Pháp Michel Chevalier dự đoán trước một sự hạ giá như thế, nhưng những người khác trong đó có Newmarch và Mc Culloch, đều không tin điều này xảy ra.

Để hiểu thành tựu của Jevons sâu hơn, phải thừa nhận rằng các nhà kinh tế học trong giai đoạn này chỉ có những khái niệm mơ hồ về giảm giá. Vì thế, Jevons phải bắt đầu bằng bài học vỡ lòng môn logic áp dụng cho thống kê học. Ông phải giải thích ý nghĩa của sự tăng giá bình quân và quan trọng nhất là phương pháp xây dựng chỉ số giá. Trong nỗ lực xây dựng chỉ số giá, sự ước tính các phương pháp số học và hình học, vấn đề cân đo và chọn hàng hóa mẫu. Lúc đó, với số liệu thống kê tập hợp được từ những tạp chí xuất bản định kỳ khác nhau, kể cả The Economist, the Gazette,The Times, Jevons xây dựng giá bình quân hàng năm của 39 mặt hàng từ các năm 1845 đến 1862. Sau khi đánh giá số liệu thống kê và vẽ đồ thị tỉ mỉ chúng, ông nhận xét:

“Hầu như không cần thu hút sự chú ý đối với sự tăng giá thường xuyên từ năm 1853... Dải giá thấp nhất bình quân từ năm 1851 thực ra diễn ra vào năm ngoái 1862, nhưng thậm chí giá cả vẫn ở mức cao hơn giá bình quân của những năm 1845-1850 đến 13%... Nghiên cứu giá bình quân hàng năm ở mọi điểm dao động từ năm 1852, và giá luôn cao hơn bất cứ điểm dao động trước khi tôi đưa vào bảng. Có một cách duy nhất để tính thực tế như thế, và bằng cách cho rằng sự mất giá thường xuyên rất đáng kể của vàng”. (Investigations, trang 44-45). Jevons cũng thảo luận sự mất giá của bạc và tỉ lệ giảm giá trị của vàng, liên quan đến sự giảm giá toàn bộ giá trị vàng so với số lượng đang sử dụng.

3. Sự mất giá vàng (tăng giá) đối với chủ nợ, người cho vay

Cuối cùng, Jevons nghiên cứu tác dụng của sự mất giá vàng (tăng giá) đối với chủ nợ, người cho vay và các giai cấp khác. Ông luôn thể hiện hiểu biết thực tế rất Sắc sảo về các định chế tín dụng và thương mại. Ông kết luận những người cho vay, những người bị thiệt hại do vàng mất giá, không có yêu cầu hợp lý việc bồi thường, nhưng ông không thảo luận tác dụng phân phối của sự mất giá vàng. Thế nhưng, ông thừa nhận tác dụng gián tiếp của sự phát hiện ra vàng, chẳng hạn như việc hình thành các thuộc địa mới, dân Anh và tiếng Anh có mặt khắp nơi và sự hồi sinh thương mại.

>> Xem thêm:  Đức trị là gì ? Khái niệm đức trị được hiểu như thế nào ?

Một vài năm sau, Jevons tiếp tục triển khai nghiên cứu thống kê về biến động giá trong “The Variation of Prices and the Value of the Currency Since 1782”, xuất bản trong Journal of the Statistical Society of London (tháng 6/1865). Trong luận văn này, Jevons triển khai phương pháp chỉ số của ông bằng cách rút gọn dữ liệu của Tooke và Newmarch trong History of Prices thành chỉ số của tất cả hàng hóa và các loại hàng hóa riêng rẻ. Ỏng đánh giá nền tảng lý thuyết của tất cả chỉ số được sử dụng phổ biến, ủng hộ phương pháp hình học hơn là phương pháp số học của Laspeyres và phương pháp điều hòa. về giá trị của những cách tính thay thế này, Jevons nhận xét “Có lẽ mỗi phương pháp trong số này đều thích hợp cho mục đích của riêng chúng khi những phương pháp này được hiểu rõ ràng hơn về lý thuyết” (Investigations, trang 114). Phương pháp hình học trình bày một số lợi thế trong tính toán chẳng hạn điều kiện thuận tiện để sửa sai kết quả bằng việc sử dụng logarit liên tục. Jevons cũng muốn một tỉ lệ đánh giá quá thấp những biến đổi bằng cách so sánh với phương pháp số học của Laspeyres.

Như trong luận văn trước đây, Jevons tỉ mỉ giải thích sự hình thành chỉ số của ông từ dữ liệu của Tooke, kể cả phương pháp “chỉnh sửa” dữ liệu qua các thời gian cách quãng khác nhau và để phân loại hàng hóa. Ví dụ, dữ liệu giá cả từ năm 1800 và 1820 phải được sửa lại để giảm giá và những biến đổi về giá so với kim bản vị, vì Ngân hàng Anh bảo trợ bản vị tiền giấy trong thời gian này (xem Chương 6). Chất lượng trong nghiên cứu của Jevons tóm lại rất cao, và kết quả chỉ số giá gấp bội từ năm 1782 đến 1865, đánh dấu nỗ lực bước đầu quan trọng nhất trong chỉ số giá có hệ thống trong tài liệu kinh tê". Bản tính thứ tự và sự sẵn sàng nêu ra câu hỏi về chất lượng dữ liệu thô và phương pháp thống kê của Jevons đã tạo ra sự đóng góp của ông vào việc xây dựng chỉ số" giá không những vượt hơn trình độ của thời đại mà còn tiến bộ rất xa.

4. Lý thuyết vệt một trời và hoạt động thương mại

Jevons giải thích khủng hoảng kinh tế trên cơ sở biến đổi vệt đen của mặt trời. “Lý thuyết vệt mặt trời” tích hợp công trình đầu tiên của Jevons về giá với sự quan tâm về thiên văn học và hiện tượng khí tượng trong suốt đời ông. Trong “The Solar Period and the Price of Corn” (1875), ông đặt vấn đề:

“Nếu các hành tinh ảnh hưởng mặt trời, và mặt trời ảnh hưởng đến mùa hái nho và thu hoạch, vì thế giá lương thực và nguyên liệu thô và tình trạng thị trường tiền tệ, phải tuân theo cấu hình của hành tinh có thể chứng minh cho các nguyên nhân xa gây ra thảm họa kinh tế nghiêm trọng nhất”. (Investiga­tions, trang 185).

Nghiên cứu khí tượng của Jevons khiến ông nghĩ rằng chu kỳ vệt đen mặt trời có thời gian là 11,11 năm. Nhiều chương trong tác phẩm nổi tiếng của James E. Thorold Rogers mang tên A History of Agriculture and Prices in England, bắt đầu xuất bản, cung cấp cho Jevons nguồn dữ liệu thô. Nhưng vào năm 1875, Jqvons không tin vào thông tin ông có trong tay đủ biện minh cho niềm tin vững chắc trong mối quan hệ nhân quả giữa vệt đen mặt trời và hoạt động kinh tế. Cũng nên lưu ý điện tín vẫn là giấc mơ của các nhà vật lý trong thế kỷ 16, 17, Jevons nêu rõ:

“Cũng đáng kỳ lạ nếu ngành khoa học giống như thiên văn theo cách như thế nên báo hiệu thắng lợi mà những nghiên cứu chính xác, theo đúng phương pháp có thể phơi bày, như đốì với các nguyên nhân mang tính chu kỳ kỳ lạ ảnh hưởng đến phúc lợi của chúng ta khi chúng ta nhận biết về chúng quá ít”. (Investigations, trang 186).

Năm 1878 Jevons trở về chủ đề vệt đen mặt trời với sự háo hức, lần đầu tiên gửi bài thuyết trình đến Hiệp hội Anh (The Periodicity of Commercial Crises and Its Physical Explanation) sau đó gửi bài cho tạp chí Nature (Com­mercial Crises and Sun-Spots). Jevons qua chứng cứ mới tin rằng thời gian kéo dài của một chu kỳ vệt đen mặt trời là 10,44 năm thay vì 11,11 năm, ngày tháng này tương quan nhiều đến chu kỳ khủng hoảng thương mại. Sự trùng hợp ngẫu nhiên ủng hộ Jevons quá nhiều, ông mạnh dạn kết luận:

“Tôi không thấy có lý do nào giải thích suy nghĩ của con người trong chính hành động tự phát của chính mình nên chọn một chu kỳ chỉ có 10,44 năm để thay đổi. Chắc chắn chúng ta phải vượt khỏi suy nghĩ về môi trường công nghiệp. Giới thương gia và chủ ngân hàng tiếp tục chịu ảnh hưởng trong giao dịch mua bán của mình bằng thông tin thu thập sự thành công trong thu hoạch, sự dồi dào tương đối hay khan hiếm hàng hóa, và khi chúng ta biết rằng có một nguyên nhân, thì sự thay đổi hoạt động của mặt trời, đúng ra là tính chất ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, và chính nó làm thay đổi trong cùng thời gian, gần như là điều chắc chắn nhất mà hai loạt hiện tượng, chu kỳ tín dụng và sự thay đổi của mặt trời được kết hợp như nhân quả”. (Investigations, trang 196).

5. Những thay đổi trong thu hoạch được chuyển thành chu kỳ thương mại ra sao?

>> Xem thêm:  Thuyết khế ước xã hội là gì ? Tìm hiểu về thuyết khế ước xã hội

Thật không may, Jevons có vẻ cứ để cho sự trùng hợp ngẫu nhiên lôi kéo ông vào lập trường cứng nhắc và không bảo vệ được. Những thay đổi trong thu hoạch được chuyển thành chu kỳ thương mại ra sao? Mặc dù ông xử lý bằng kinh nghiệm châu Âu trong bài thuyết trình trước đây, nhưng lúc này Jevons cho rằng tác động đối với thị trường tiền tệ và thương mại ở Anh là thông qua ngoại thương với Ấn Độ và phương Đông. Những khủng hoảng chu kỳ trong thu hoạch vụ mùa ở Ấn Độ sẽ thay đổi giá sản phẩm thô và tính chất cân bằng thương mại của Anh. Trong bài thuyết trình của ông năm 1875, Jevons nhấn mạnh các yếu tố quyết định “tinh thần” - chủ nghĩa lạc quan, sự thất vọng, hoảng hốt, v.v... - của chu kỳ thương mại, và ông cố’ gắng liên kết chúng với sự dao động giá lương thực. Lúc này, Jevons từ bỏ những ảnh hưởng tinh thần trong “cơ cấu chuyển giao” và đơn thuần chỉ nhấn mạnh sự trùng hợp ngẫu nhiên của giá cao ở Ấn Độ và khủng hoảng thương mại ở Anh. Nhưng bản thân Jevons cũng nhận thấy vấn đề chính với một lập luận như thế: nếu nguyền nhân khủng hoảng thương mại ở Anh là giá cao của nông sản ở Ấn Độ, thì sự chậm trễ giữa giá cao và khủng hoảng sẽ được nghĩ đến hay thậm chí phải có. Không điều nào quan sát thấy. Tóm lại, một số giải thích mối quan hệ hay sự chuyển giao đều cần, nhưng Jevons không đề xuất gì cả. Lý thuyết của ông rút ra từ nghiên cứu về dữ liệu có giá trị hoàn toàn không đầy đủ. Các nhà thiên văn trở lại chu kỳ vệt đen mặt trời 11,11 năm, trong khi quan điểm có lẽ có một số’ giá trị trong các xã hội nông nghiệp là chính. Lúc này phải cho rằng những yếu tố quyết định của chu kỳ kinh doanh còn phức tạp hơn suy nghĩ của Jevons (hay các tác giả ban đầu khác) rất nhiều.

Mặc dù với “tình tiết vệt đen mặt trời”, công trình thống kê của Jevons cũng đáng được ghi nhận. Tinh thần khoa học trong nỗ lực thảo luận nguyên nhân các hiện tượng kinh tế thâm nhuần công trình thực nghiệm của ông, cùng với nghiên cứu về loạt giá mãi mãi luôn sừng sững như một đài tưởng niệm và cũng là minh họa cho những ai quan tâm đến kinh tế học và chủ nghĩa thực nghiệm.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)

>> Xem thêm:  Quyền lực chính trị là gì ? Quy định về quyền lực chính trị

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Theo Jevons thì giá trị của sự thích thú và đau khổ thay đổi theo yếu tố nào?

Trả lời:

Theo sự dìu dắt của Bentham, Jevons cho rằng giá trị của sự thích thú và đau khổ thay đổi tùy theo bốn tình huống: (1) cường độ, (2) thời gian kéo dài, (3) chắc chắn hay không chắc chắn, và (4) gần hay xa. 

Câu hỏi: Jevons định nghĩa lao động như thế nào?

Trả lời:

Jevons định nghĩa lao động như “bất kỳ sử dụng chịu đựng một phần hay toàn bộ sự nhọc nhằn về trí óc và thể xác vối quan điểm hàng kỳ hạn”. 

Câu hỏi: Nghịch lý Jevons nghĩa là gì?

Trả lời:

Trong kinh tế học, các nghịch lý Jevons xảy ra khi tiến bộ công nghệ hoặc chính sách của chính phủ làm tăng hiệu quả mà một tài nguyên được sử dụng (giảm số tiền cần thiết cho bất kỳ một sử dụng), nhưng tốc độ tiêu thụ tài nguyên đó tăng lên do nhu cầu ngày càng tăng. Nghịch lý Jevons có lẽ là nghịch lý được biết đến rộng rãi nhất trong kinh tế môi trường. Tuy nhiên, các chính phủ và các nhà môi trường thường cho rằng tăng hiệu quả sẽ làm giảm tiêu thụ tài nguyên, bỏ qua khả năng phát sinh nghịch lý.