Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục  của Chuyên trang

Xác định quyền sử dụng đất của vợ nhỏ không tiến hành đăng kí kết hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi 1900.6162

Chào bạn,

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

2. Luật sư tư vấn:

Trước hết cần xác định quyền đối với mảnh đất này của ba bạn và vợ nhỏ, do hai người chỉ sống chung không đăng kí kết hôn nên đây không được coi là hôn nhân hợp pháp từ đó xác định người vợ nhỏ này không có quyền hưởng di sản thừa kể, tuy nhiên cần phải xác định xem tiền dùng để mua mảnh đất này là của một mình ba bạn bỏ ra hay cả ba bạn và người vợ nhỏ bỏ ra. 

TH1 : Tiền mua mảnh đất này do ba bạn và người vợ nhỏ cùng bỏ ra.

Như vậy đây có thể xác định là tài sản chung của cả hai trong thời kì sống cùng nhau, người vợ nhỏ sẽ có một phần quyền bằng của ba bạn đối với mảnh đất này và hoàn toàn có thể xin cấp giấy chứng nhận đối với phần quyền đó theo quy định tại Điều 82 nghị định 43/2014/NĐ-CP. Đối với mảnh đất thuộc phần quyền của ba bạn sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật thừa kế.

Căn cứ Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

"Điều 82. Thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định

1. Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008 mà đất đó chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này thì người nhận chuyển quyền sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật Đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được bắt buộc người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà bên nhận chuyển quyền sử dụng đất chỉ có Giấy chứng nhận của bên chuyển quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất theo quy định thì thực hiện theo quy định như sau:

a) Người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và các giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện có;

b) Văn phòng đăng ký đất đai thông báo bằng văn bản cho bên chuyển quyền và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển quyền. Trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương ba số liên tiếp (chi phí đăng tin do người đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trả);

c) Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp không nộp Giấy chứng nhận để làm thủ tục đồng thời cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mới cho bên nhận chuyển quyền.

Trường hợp có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định."

Như vậy theo quy định trên có hai tình huống có thể sảy ra :

Thứ nhất : Diện tích đất trên đã được cấp giấy chứng nhận thì chỉ có giấy tờ mua bán viết tay thì người vợ nhỏ nếu đang sử dụng đất trước ngày 01/07/2014 đó vẫn được xem xét cấp giấy chứng nhận theo khoản 2 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP

Thứ hai : Diện tích đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận mà người vợ đó đang sử dụng đất từ trước ngày 01/01/2008 thì không cần giấy tờ về việc mua bán vẫn được đăng ký để cấp giấy chứng nhận lần đâu.

Trường hợp thứ hai : Mảnh đất này được mua hoàn toàn bằng tiền riêng của ba bạn.

Lúc này mảnh đất sẽ được xác định là tài sản riêng của ba bạn người vợ nhỏ này tuy sống chung nhưng không thực hiện đăng kí kết hôn nên được coi là ở nhờ nhà của ba bạn, theo đó quyền sử dụng mảnh đất sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật thừa kế.

Tham khảo bài viết liên quan:

Tư vấn tranh chấp đất đai: Mua bán nhà đất bằng giấy tờ viết tay?

Tư vấn làm sổ đỏ khi mua đất bằng giấy viết tay ?

Tư vấn về việc mua đất nông nghiệp chỉ có giấy tờ viết tay ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật