1. Thiệt hại do tài sản bị xâm hại bao gồm những gì?

Khi tài sản bị xâm phạm, thiệt hại được xác định bao gồm hai loại là thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp.

Thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại có thể xác định cụ thể khi tài sản bị xâm phạm (thiệt hại về giá trị của tài sản bị xâm phạm). Đây là những loại thiệt hại có thể tính toán bằng các đơn vị đo lường ngay tại thời điểm xảy ra thiệt hại. Loại thiệt hại này có thể bao gồm giá trị còn lại của tài sản tại thời điểm gây thiệt hại (khi tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng mà không thể sửa chữa), hoặc đó chính là chi phí sửa chữa, phục hồi công dụng của tài sản (đối với trường hợp tài sản bị hư hỏng nhưng có thể sửa chữa).

Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại gắn liền với việc khai thác công dụng của tài sản, những chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại và những thiệt hại khác do luật quy định. Những loại thiệt hại này có thể có hoặc không có tùy vào từng trường hợp cụ thể. Đây là những loại thiệt hại được xác định dựa vào rất nhiều yếu tố, ví dụ khả năng khai thác công dụng của tài sản.

Theo quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

4. Thiệt hại khác do luật quy định.

==> Khi tài sản bị xâm phạm thì có thể có một số các thiệt hại sau:

+ Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

+ Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

+ Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

+ Và một số thiệt hại khác nếu pháp luật có quy định.

 

2. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng

Khi tài sản bị xâm phạm, thiệt hại đầu tiên phải kể đến là tài sản bị mất, hủy hoại, bị hư hỏng.

Quy định về “tài sản bị mất”, “tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng” trong Bộ luật dân sự 2015 được đặt trong cùng một khoản thay vì đặt trong hai khoản khác nhau như trong Bộ luật dân sự trước đây:

"Điều 608. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1. Tài sản bị mất;

2. Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

..."

Quy định này là hợp lý, bởi vì về bản chất, hai loại thiệt hại này đều là những thiệt hại trực tiếp do tài sản bị xâm phạm, nên việc tách ra là không cần thiết. Hơn nữa, việc tách hai loại thiệt hại này ra hai khoản khác nhau sẽ có thể dẫn đến cách hiểu rằng những thiệt hại này độc lập với nhau, và khi xác định tính toán tất cả những thiệt hại này. Tuy nhiên, khi thiệt hại được biểu hiện dưới dạng “bị mất” thì chỉ tính giá trị của tài sản bị mất chứ không thể tính tiếp giá trị của thiệt hại về “tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng”.

 

3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút

Thiệt hại thứ hai khi tài sản bị xâm phạm đó là "Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút."

Trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không thể sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất.

Cụ thể: Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra; nếu tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người khác quản lý thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài sản được xác định là những thiệt hại được bồi thường.

VÍ dụ: A điều khiển xe đi quá tốc độ đâm vào xe B, lúc này ngoài việc A phải bồi thường số tiền để B sửa chữa xe thì A còn phải bồi thường thêm một khoản tiền do trong thời gian B sửa xe chiếc xe không thể đưa vào khai thác, sử dụng được dẫn tới thiệt hại cho B.

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại

Thiệt hại thứ ba cần xem xét đến khi tài sản bị xâm hại là "Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại."

Các khoản chi phí hợp lý là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi phí.

So với Bộ luật dân sự trước đây, Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm quy định về “thiệt hại khác do luật quy định”. Quy định này cũng hợp lý, bởi vì khi tài sản bị xâm phạm có thể chủ sở hữu sẽ mất đi những lợi ích mà lẽ ra họ sẽ được hưởng. Do đó, việc liệt kê theo quy định của Bộ luật dân sự trước đây sẽ không bao quát đầy đủ các thiệt hại mà chủ sở hữu phải gánh chịu khi tài sản bị xâm phạm.

Ví dụ: Một con trâu đang có mang đến tháng thứ 9 bị ô tô lao chết thì khi xác định thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự trước đây, không thể tính đến giá trị của “con nghé sắp được sinh ra”. Đây rõ ràng là một lợi ích mà lẽ ra chủ sở hữu con trâu sẽ được hưởng nếu con trâu không bị gây thiệt hại. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, giá trị của con nghé có thể cũng được xác định là một trong những loại thiệt hại khác do pháp luật quy định khi tính toán mức bồi thường.

Nội dung của Điều 589 Bộ luật dật liệt kê các loại thiệt hại được bồi thường khi tài sản bị xâm phạm, về các loại thiệt hại như: “Tài sản bị mất; Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng; Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; chỉ phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại” là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, trong Điều luật này còn liệt kê một loại thiệt hại nữa đó là “chi phí hợp lý để khắc phục thiệt hại”. Nếu coi đây là một loại thiệt hại được bồi thường thì vấn đề đặt ra là chi phí để khắc phục thiệt hại này có phải là một loại chi phí hoàn toàn độc lập so với các loại thiệt hại khác không? Ví dụ A làm mất hoặc làm hủy hoại hoàn toàn tài sản của B thì ngoài việc A phải bồi thường toàn bộ giá trị của tài sản tại thời điểm làm mất hoặc làm hủy hoại, liệu A có phải bồi thường thêm chi phí để khắc phục thiệt hại nữa không?

Về lý thuyết mà nói thì khắc phục thiệt hại chính là bỏ ra các chi phí để bồi thường thiệt hại. Nó đơn giản chỉ là A gây thiệt hại cho tài sản của B, và để khắc phục những thiệt hại đối với tài sản của B thì A phải bồi thường những thiệt hại đó. Về bản chất thì bồi thường thiệt hại chính là khắc phục thiệt hại và để khắc phục thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại. Như vậy, bản thân cụm từ “chi phí hợp lý để khắc phục thiệt hại'’’ đã bao hàm tất cả các loại chi phí để bồi thường thiệt hại.

 

5. Phân biệt thiệt hại do xâm phạm tài sản và xâm phạm các quyền nhân thân

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản và trách nhiệm bồi thường do xâm phạm các quyền nhân thân có một số điểm giống nhau như sau:

- Đều là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được áp dụng đối với người vi phạm, buộc người vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

- Đều là một loại trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Các căn cứ được xác định như: có thiệt hại, có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại,...

- Có sự tương đồng liên quan đến hậu quả (trách nhiệm vật chất), những trường hợp được loại trừ, những trường hợp không được loại trừ...

Mặc dù có một số điểm giống nhau nhưng bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm khác so với thiệt hại do các quyền nhân thân bị xâm phạm ở một số điểm sau:

Tiêu chí Thiệt hại do tài sản bị xâm hại Thiệt hại do xâm phạm các quyền nhân thân
Căn cứ phát sinh Phát sinh trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng Chỉ phát sinh ngoài hợp đồng
Đối tượng bị xâm hại

Tài sản

(Điều 105 BLDS 2015 quy định “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”)

Các quyền nhân thân được pháp luật quy định và bảo vệ như:

- Quyền có họ, tên (Điều 26);

- Quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29);

- Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32);

- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34);

- Quyền xác định lại giới tính (Điều 36);

- Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38);

...

 

Thiệt hại phải bồi thường

Thiệt hại vật chất:

- Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

- Thiệt hại khác do luật quy định.

 

- Thiệt hại vật chất

- Thiệt hại tinh thần

Biện pháp bảo vệ

- Yêu cầu khôi phục tình trạng ban đầu.

- Trả lại tài sản.

- Bồi thường thiệt hại.

Điều 164 Bộ luật dân sự 2015

- Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình.

- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.

- Buộc xin lỗi, cải chính công khai.

- Buộc thực hiện nghĩa vụ.

- Buộc bồi thường thiệt hại.

- Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

- Yêu cầu khác theo quy định của luật.

Điều 11 Bộ luật dân sự 2015

Khả năng chuyển giao Có thể thay đổi chủ thể, chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ.

Không thể thay đổi chủ thể, chuyển giao quyền yêu cầu.

Điều 25 Bộ luật dân sự 2015

Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.