Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Giao thông của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Giao thông, gọi: 1900.6162

Kính gửi luật Minh Khuê,

Khoảng 19h, Bên A và bên B có va chạm giao thông trên tuyến đường cao tốc chưa đi vào vận hành. Hai bên đều có nồng độ cồn khi tham gia giao thông lúc xảy ra tai nạn. Bên A đi đúng chiều, có bằng lái xe, đi xe 50 phân khối, không đội mũ bảo hiểm, không có đèn xe. Bên B đi ngược chiều, không có đèn xe, đi xe trên 50 phân khối.

Hai xe va chạm và bên A chết ngay tại chỗ, không có dấu hiệu chạy với tốc độ cao từ 2 bên (bên A chết trong tư thế chân còn gác trên xe, người và xe gần nhau). Bên B hiện đang bị chấn thương vùng đầu và đang điều trị tại bệnh viện. Bên A có một con dưới 18 tuổi.

Với tình tiết sự việc như trên, tôi cần biết thông tin như sau:

1. Bên B phải bồi thường cho bên A như thế nào?

2. Nếu thỏa thuận giữa 2 bên không thành, bên A có thể khởi kiện không? Án phí phải chịu như thế nào? bên nào sẽ thanh toán mức phí đó?

3. Bên B phải chịu trách nhiệm hình sự không? Mức hình phạt như thế nào?

Tôi xin trân trọng cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

- Bộ Luật dân sự 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;

Nội dung tư vấn:

Câu hỏi 1. Bên B có phải bồi thường thiệt hại do bên B gây ra không?

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

Theo thông tin quý khách hàng cung cấp, chúng tôi hiểu rằng bên A đi đúng chiều, có bằng lái xe, đi xe 50 phân khối, không đội mũ bảo hiểm, không có đèn xe và bên B đi ngược chiều, không có đèn xe, đi xe trên 50 phân khối có va chạm nhau dẫn đến bên A chết. Trong vụ tai nạn giao thông yếu tố “lỗi” chính là căn cứ xác định có phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hay không, do đó cần phải dựa theo kết luận của cơ quan điều tra để xác định lỗi của hai bên.

1. Căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại

Căn cứ Điều 584 Bộ Luật dân sự 2015 quy định về căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại như sau:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

Như vậy, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh khi có các yếu tố sau:

  • Có thiệt hại thực tế xảy ra.
  • Có hành vi trái pháp luật.
  • Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
  • Người gây thiệt hại có lỗi.
  1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này bao gồm thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm và thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

1.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:

Căn cứ Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm như sau:

“Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?

2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

4. Thiệt hại khác do luật quy định.”

1.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:

Căn cứ Điều 590 Bộ Luật dân sự 2015 quy định về thiệt hại do sức khở bị xâm phạm như sau:

“Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

>> Xem thêm:  Hỏi về quyền và nghĩa vụ của cảnh sát giao thông ? Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Lưu ý: Những chi phí sau sẽ được tính là chi phí bồi thường khi sức khỏe bị xâm phạm gồm các chi phí cơ bản sau:

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại. Chi phí này thường được xác định dựa trên biên lai thu tiền viện phí, hóa đơn thanh toán tiền thuốc điều trị…
  • Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại. Để có căn cứ chứng minh thu nhập này, người bị thiệt hại về sức khỏe có thể chứng minh qua thang bảng lương, hợp đồng lao động mình đã ký kết để tính ra mức thiệt hại cụ thể.
  • Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Đối với những trường hợp người bị thiệt hại về sức khỏe cần người chăm sóc trong thời gian điều trị tại bệnh viên, cơ sở y tế thì thu nhập của người chăm sóc người bị xâm hại về sức khỏe cũng được tính vào chi phí bồi thường

1.3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:

Căn cứ Điều 591 Bộ Luật dân sự 2015 quy định thiệu hại do tính mạng bị xâm phạm như sau:

“Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

>> Xem thêm:  Trình tự giải quyết tai nạn, va chạm giao thông được thực hiện thế nào ?

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Như vậy, những chi phí sẽ được tính là chi phí bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm:

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết.
  • Chi phí hợp lý cho việc mai táng gồm các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung.
  • Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng: Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm sức khỏe mất khả năng lao động, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

2. Trách nhiệm bồi thường của các bên

2.1. Trường hợp 1: Lỗi từ bên A.

Trong trường hợp nếu lỗi do bên A gây ra, bên A sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 589, 590 Bộ luật Dân sự 2015 ở trên.

Tuy nhiên theo thông tin chị cung cấp bên A đã qua đời trong tai nạn này. Do đó theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 trường hợp này sẽ được xử lý như sau: “Những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Như vậy nếu A là người gây ra thiệt hại và A đã chết thì trách nhiệm bồi thường sẽ do những người thừa kế của người đó thực hiện.

2.2. Trường hợp 2: Lỗi từ bên B

Trong trường hợp nếu lỗi do bên B gây ra, bên B sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tài sản và tính mạng bị xâm phạm như đã nêu ở trên. Trách nhiệm bồi thường do bên B gây ra là chi phí cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng (gia đình anh A có một cháu dưới 18 tuổi). Và mức chu cấp sẽ do Tòa án quyết định mức chu cấp này phụ thuộc vào thu nhập, khả năng của anh B cùng với nhu cầu thiết yếu của bên gia đình anh A.

Bên B phải bù đắp thiệt hại về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại mức tối đa không quá 100 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định. Ngoài ra, hai bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường cho người nhà nạn nhân và có thể dựa vào yếu tố lỗi của hai bên để đưa ra mức bồi thường cho hợp lý.

>> Xem thêm:  Phải làm gì khi bị Cảnh Sát Giao Thông dừng xe ? Trách nhiệm bồi thường tai nạn giao thông

2.3. Trường hợp 3: Lỗi từ cả hai bên ( lỗi hỗn hợp)

Trường hợp do lỗi của hai bên gây ra thì sẽ chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của mình.

Câu hỏi 2. Nếu thỏa thuận giữa 2 bên không thành, bên A có thể khởi kiện không? Các vấn đề về án phí?

  1. Vấn đề tự thỏa thuận

Thứ nhất, Trường hợp kết luận của cơ quan điều tra xác định không có dấu hiệu tội phạm:

Trường hợp kết luận của cơ quan điều tra xác định không có dấu hiệu tội phạm các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường. Pháp luật không quy định cụ thể một mức bồi thường nào mà sẽ cho các bên tự thỏa thuận với nhau dựa theo những căn cứ trên (đã nêu tại mục 1.2). Nếu thỏa thuận giữa hai bên không thành, bên A có thể khởi kiện bên B tại tòa án nhân dân nơi bên B đang cư trú.

Thứ hai, Trường hợp kết luận của cơ quan điều tra xác định có dấu hiệu tội phạm:

Trường hợp này, dù cả hai bên đã thỏa thuận về mức bồi thường thì vẫn sẽ bị khởi tố (bởi không thuộc Điều 155 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 Chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại).

Theo Khoản 1 Điều 260 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

>> Xem thêm:  Tư vấn về mức xử phạt hành chính khi gây tai nạn giao thông theo luật ?

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Theo thông tin mà bạn cung cấp B đi ngược chiều, không có đèn. Do đó, B có dấu hiệu của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, B có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm khi thỏa mãn một trong những dấu hiệu trên. (Trường hợp này còn phụ thuộc rất nhiều vào kết luận của cơ quan điều tra)

2. Vấn đề án phí

* Án phí dân sự sơ thẩm

Căn cứ Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, mức án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm đối với vụ án có giá ngạch là: 300.000 đồng

* Án phí hình sự sơ thẩm

Theo Mục A, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì mức thu án phí hình sự là 200.000 nghìn đồng.

>> Xem thêm:  Đua xe trái phép sẽ bị xử lý như thế nào ? Mức xử phạt các lỗi vi phạm giao thông

* Nghĩa vụ chịu án phí

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm trong vụ án hình sự, bao gồm những chủ thể sau:

  • Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;
  • Bị hại đã yêu cầu khởi tố phải chịu án phí hình sự sơ thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mà sau đó Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết này;
  • Trường hợp bị hại khai báo tài sản bị xâm hại và có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nhưng thực tế chứng minh tài sản bị cáo xâm phạm có giá trị thấp hơn hoặc cao hơn giá trị tài sản khai báo thì bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được tính đối với phần tài sản chứng minh được bị xâm phạm;
  • Bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản theo quy định của pháp luật không yêu cầu một số tiền hoặc tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể thì không phải chịu án phí nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
  • Bị hại có yêu cầu bồi thường thiệt hại về những khoản không phù hợp với pháp luật thì Tòa án phải giải thích cho họ việc họ phải chịu án phí nêu yêu cầu bồi thường thiệt hại đó không được Tòa án chấp nhận. Trường hợp họ vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết thì họ phải chịu án phí nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
  • Trước khi mở phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì họ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp Tòa án đưa ra xét xử vụ án đó;
  • Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp.

Câu hỏi 3. Bên B phải chịu trách nhiệm hình sự không? Mức hình phạt như thế nào?

Nếu B có đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm sẽ bị khởi tố theo quy định tại Điều 260 Bộ Luật Hình sự 2015 ở trên.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục bàn giao xe ô tô cho nhân viên là lái xe ? Trách nhiệm lái xe khi xảy ra tai nạn giao thông