Cơ sở pháp lý quy định về các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng được nêu rõ trong Luật Xây dựng 2014, đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2020. Luật này không chỉ đặt ra những quy định về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực xây dựng, mà còn xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lý hoạt động đầu tư xây dựng. Đặc biệt, luật áp dụng cho tất cả các tổ chức và cá nhân trong nước cũng như các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.

Một điểm quan trọng trong luật này là nếu có điều ước quốc tế nào mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với những quy định của Luật Xây dựng, thì các quy định của điều ước quốc tế đó sẽ được ưu tiên áp dụng. Điều này thể hiện sự tôn trọng các cam kết quốc tế của Việt Nam và đảm bảo rằng các hoạt động đầu tư xây dựng diễn ra một cách hợp pháp và hiệu quả, đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Thực hiện đúng các quy định này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành xây dựng trong nước.

 

1. Các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng

Giấy phép xây dựng là một văn bản pháp lý quan trọng, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư, nhằm cho phép họ thực hiện các hoạt động xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo hoặc di dời công trình. Văn bản này không chỉ thể hiện sự chấp thuận của cơ quan chức năng mà còn là căn cứ pháp lý để đảm bảo rằng các hoạt động xây dựng được tiến hành đúng quy định, an toàn và phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành.

Việc cấp giấy phép xây dựng thường trải qua một quy trình thẩm định kỹ lưỡng, trong đó cơ quan nhà nước sẽ xem xét hồ sơ thiết kế, quy hoạch sử dụng đất và các yếu tố liên quan khác để đảm bảo rằng dự án xây dựng không ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, cảnh quan và đời sống của cộng đồng. Giấy phép xây dựng cũng giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đảm bảo rằng mọi công trình được xây dựng đều đáp ứng được các yêu cầu về an toàn và chất lượng. Việc tuân thủ các quy định liên quan đến giấy phép xây dựng không chỉ góp phần bảo vệ an toàn cho công trình mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với các quy định của pháp luật, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội trong quá trình phát triển đô thị.

Theo khoản 2 Điều 89 của Luật Xây dựng 2014, đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2020, có nhiều trường hợp mà việc xây dựng nhà không yêu cầu phải xin giấy phép xây dựng. Đầu tiên, các công trình bí mật nhà nước hoặc công trình xây dựng khẩn cấp sẽ không cần giấy phép, đảm bảo tính kịp thời và an toàn trong những tình huống đặc biệt. Tiếp theo, các công trình thuộc dự án sử dụng vốn đầu tư công được quyết định đầu tư bởi những cơ quan cao nhất như Thủ tướng Chính phủ hay các cơ quan trung ương khác cũng nằm trong danh sách miễn giấy phép.

Bên cạnh đó, những công trình xây dựng tạm theo quy định tại Điều 131 của luật cũng không yêu cầu xin giấy phép. Các hoạt động sửa chữa, cải tạo bên trong hoặc bên ngoài công trình, miễn là không làm thay đổi công năng sử dụng, không ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực và phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt, cũng không cần giấy phép.

Thêm vào đó, công trình quảng cáo không nằm trong đối tượng phải cấp giấy phép theo luật quảng cáo, cũng như các công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động cũng được miễn giấy phép. Đối với các công trình nằm trên địa bàn hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên hoặc các công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị, miễn là phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cũng không cần giấy phép.

Ngoài ra, công trình xây dựng đã được cơ quan chuyên môn thông báo kết quả thẩm định thiết kế cũng nằm trong danh sách miễn giấy phép. Nhà ở riêng lẻ có quy mô dưới 7 tầng thuộc các dự án khu đô thị hoặc dự án xây dựng nhà ở đã được phê duyệt cũng được miễn giấy phép. Cuối cùng, các công trình cấp IV và nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, miễn là thuộc khu vực không có quy hoạch đô thị hoặc quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt, cũng như các công trình ở miền núi, hải đảo, không thuộc khu bảo tồn hay di tích lịch sử - văn hóa, sẽ không cần giấy phép xây dựng. Những quy định này giúp tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, đồng thời vẫn đảm bảo các tiêu chí an toàn và phát triển bền vững.

Lưu ý rằng đối với các chủ đầu tư xây dựng công trình được quy định tại các điểm b, e, g, h và i khoản 2 Điều 89 của Luật Xây dựng 2014, họ có trách nhiệm gửi thông báo về thời điểm khởi công xây dựng cùng hồ sơ thiết kế xây dựng theo quy định đến cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương. Điều này nhằm đảm bảo rằng các cơ quan chức năng có thể theo dõi và quản lý chặt chẽ các hoạt động xây dựng diễn ra trên địa bàn. Tuy nhiên, có một ngoại lệ đáng chú ý đối với nhà ở riêng lẻ có quy mô dưới 07 tầng thuộc dự án đầu tư xây dựng khu đô thị hoặc dự án đầu tư xây dựng nhà ở có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, các công trình này không cần phải xin giấy phép xây dựng.

Như vậy, những trường hợp nêu trên sẽ không bị yêu cầu phải có giấy phép xây dựng, giúp giảm bớt gánh nặng thủ tục hành chính cho các chủ đầu tư. Ngược lại, đối với các trường hợp khác không thuộc diện miễn giấy phép, chủ đầu tư bắt buộc phải xin giấy phép trước khi tiến hành xây dựng. Nếu không thực hiện theo quy định này, chủ đầu tư sẽ phải đối mặt với các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật, điều này nhằm đảm bảo sự tuân thủ và kiểm soát trong hoạt động xây dựng, bảo vệ an toàn công trình cũng như lợi ích của cộng đồng.

 

2. Mức xử phạt khi xây nhà không có giấy phép xây dựng

Theo khoản 7 Điều 16 Nghị định 16/2022/NĐ-CP, việc xử phạt đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình mà không có giấy phép xây dựng, trong những trường hợp mà theo quy định phải có giấy phép, sẽ bị xử lý rất nghiêm khắc. Cụ thể, nếu xây dựng nhà ở riêng lẻ mà không có giấy phép, tổ chức sẽ bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Nếu công trình đó nằm trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa, mức phạt sẽ cao hơn, từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Đối với những công trình có yêu cầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng, mức phạt sẽ tăng lên từ 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng.

Ngoài việc bị phạt tiền, tổ chức vi phạm còn bị buộc phải phá dỡ công trình hoặc phần công trình xây dựng vi phạm. Đối với những hành vi tổ chức thi công mà không có giấy phép nhưng đang trong quá trình xây dựng, cần tuân theo trình tự và thủ tục quy định tại Điều 81 của Nghị định này. Đặc biệt, lưu ý rằng đối với cá nhân vi phạm có cùng hành vi, mức phạt sẽ chỉ bằng ½ so với mức phạt đối với tổ chức.

Như vậy, tổ chức có hành vi xây dựng công trình mà không có giấy phép xây dựng trong những trường hợp bắt buộc sẽ phải đối mặt với mức phạt tiền lên đến 140 triệu đồng, đồng thời phải chịu trách nhiệm phá dỡ công trình vi phạm. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định pháp luật trong lĩnh vực xây dựng, nhằm bảo vệ an toàn công trình và quyền lợi của cộng đồng.

Xem thêm bài viết: 

Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline tư vấn pháp luật xây dựng, nhà ở trực tuyến: 1900.6162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn.