1. Án tích theo Bộ luật hình sự mới nhất

- Cơ sở pháp lý: Điều 69 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 69. Xóa án tích

1. Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 của Bộ luật này.

Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án.

2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.

Theo điều luật trên, xóa án tích tức là khi một người phạm tội, họ đã bị kết án theo Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 được quy định nhưng trong một thời gian nhất định họ được xóa án tích. coi như chưa bị kết án theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 2, người bị kết án trong các trường hợp sau thì không bị coi là có án tích, cụ thể:

a. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng. Theo đó lỗi vô ý được quy định tại điều 11. Vô ý phạm tội có thể là vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả như sau:

Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm (điểm a khoản 1 điều 9).

b. Người thực hiện lỗi vô ý về tội nghiêm trọng. Theo đó tội nghiêm trọng được quy định như sau:

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù (điểm b khoản 1 điều 9).

c. Người được miễn hình phạt theo quy định của pháp luật.

Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác,9 người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng10 gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả11 và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp12 của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Trân trọng!

 

2. Trường hợp xoá án tích đặc biệt

- Cơ sở pháp lý: Điều 72 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 72. Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

Theo điều luật này, ta có thể thấy xóa án tích trong trường hợp đặc biệt như sau:

Thứ nhất, Điều kiện để được coi là Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt:

Có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công + người bị kết án đã đảm bảo được ít nhất 1/3 thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 70 và Khoản 2 Điều 71.

Vậy, như thế nào thì được coi là đã lập công? Hay tiến bộ rõ rệt như thế nào gọi là lập công? Trong thì trong phạm vi Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 này không có quy định cụ thể.

Vậy chúng ta có thể hiểu “lập công” như có hành động thể hiện sự quên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cộng đồng, vì quyền và lợi ích chính đáng của người khác... được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận rõ ràng trên giấy tờ... Quyền đề nghị: Cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú.

Thứ hai, xóa án tích trong trường hợp đặc biệt có 2 nhóm cơ quan có quyền đề nghị quyết định việc xóa án tích cho Tòa án, đó là nơi mà người đó công tác hoặc là chính quyền địa phương nơi người đó cư trú.

Theo Điều 12 Luật cư trú 2006 quy định về Nơi cư trú của công dân như sau:

"1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống."

Thứ ba, Quyền quyết định xóa án tích của Tòa án

Theo điều 72 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định chủ thể duy nhất có thẩm quyền quyết định xóa án tích trong trường hợp đặc biệt này là Tòa án. Như đã đề cập ở phần trên, trong trường hợp đương nhiên xóa án tích tạo điều 70 thì thẩm quyền thuộc về cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chứ không phải Tòa án. Tuy nhiên, nếu thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích và lại rơi vào trường hợp xóa án tích đặc biệt thì thẩm quyền không còn thuộc về cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp mà thẩm quyền vẫn thuộc về Tòa án.

 

3. Thời hạn xóa án tích đối với hai trường hợp tại Điều 70 và 71 Bộ luật hình sự hiện hành

- Cơ sở pháp lý: khoản 1 điều 73 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích

1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

Theo khoản 1 điều luật quy định: "Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên."
Tại điều 70 quy định về trường hợp đương nhiên được xóa án tích:

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

Thứ hai, điều 71 quy định về trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án, đó là:

Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.

Theo quy định của điều 73, xác định việc tính thời hạn để xóa án tích được căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.
Tức là khi muốn xóa án tích phải dựa vào loại và mức hình phạt chính đã tuyên để xác định thời hạn để xóa án tích. Nhưng thời điểm bắt đầu của thời hạn đã được xác định này, tùy trường hợp có thể là ngày chấp hành xong hình phạt chính, hết thời gian thử thách của án treo, chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc là ngày hết thời hiệu thi hành bản án.
Ví dụ: Anh H bị tuyên hình phạt tù 10 năm đồng thời bị áp dụng hình phạt bổ sung quản chế 04 năm, và phạt tiền 20 triệu thì chúng ta phải dựa vào hình phạt tù 10 năm là hình phạt chính để xác định thời hạn xóa án tích của anh H là 03 năm (trong trường hợp đương nhiên xóa án tích của điều 70) hoặc 05 năm (trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án của điều 71) chứ không được dựa vào thời hạn 04 năm quản chế hay phạt tiền để xác định thời hạn xóa án tích.
 

4. Về thời hạn xóa án tích theo quy định pháp luật

- Cơ sở pháp lý: Điều 73 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích

1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

3. Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó.

4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.

Theo khoản 1 quy định thì khi muốn xóa án tích phải dựa vào loại và mức hình phạt chính đã tuyên để xác định thời hạn để xóa án tích. Nhưng thời điểm bắt đầu của thời hạn đã được xác định này, tùy trường hợp có thể là ngày chấp hành xong hình phạt chính, hết thời gian thử thách của án treo, chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc là ngày hết thời hiệu thi hành bản án.

Ví dụ: Anh H bị tuyên hình phạt tù 15 năm đồng thời bị áp dụng hình phạt bổ sung quản chế 03 năm, và Cấm đảm nhiệm chức vụ thì chúng ta phải dựa vào hình phạt tù 15 năm là hình phạt chính để xác định thời hạn xóa án tích của anh H là 03 năm (trong trường hợp đương nhiên xóa án tích của điều 70) hoặc 05 năm (trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án của điều 71) chứ không được dựa vào thời hạn 03 năm quản chế hay Cấm đảm nhiệm chức vụ để xác định thời hạn xóa án tích.

Theo khoản 2, quy định về trường hợp tính lại thời hạn:

Theo đó:

Việc tính lại thời hạn sẽ áp dụng khi người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

Theo khoản 2, người bị kết án chưa được xóá án tích nhưng người bị kết án lại phạm tội mới và đã bị kết án bằng Bản án đã có hiệu lực pháp luật dẫn đến thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

Theo khoản 3 điều luật quy định về trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội thuộc cả 2 trường hợp đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án

Cụ thể, người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó.

Như vậy ở đây có 2 nội dung lớn là thời hạn xóa án tích và thẩm quyền quyết định đều căn cứ vào Điều 71 để quyết định. Nghĩa là Tòa án là chủ thể có thẩm quyền quyết định việc xóa án tích và thời hạn xóa án tích sẽ dài hơn so với trường hợp đương nhiên xóa án tích như tác giả đã bình luận ở Điều 71. Về thẩm quyền quyết định thuộc về Tòa án.

Khoản 4 quy định về trường hợp người được miễn chấp hành hình phạt

Theo khoản này quy định: "Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt."

Ví dụ chứng minh: Anh văn H bị tuyên phạt tù 05 năm nhưng sau khi chấp hành được 04 năm thì anh H đáp ứng đủ điều kiện để miễn hình phạt và đã được miễn 01 năm tù còn lại thì coi như anh H đã chấp hành xong hình phạt kể từ thời điểm chấp hành xong hình phạt năm thứ 04 và thời điểm để bắt đầu tính thời hạn xóa án tích cũng căn cứ vào đó.

 

5. Trường hợp nào được xóa án tích đương nhiên

- Cơ sở pháp lý: Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

Theo khoản 1 là quy định loại trừ các trường hợp không được đương nhiên xóa án tích. Tức là nếu không thuộc các trường hợp đó, những người phạm tội sau khi chấp hành xong hình phạt họ sẽ được đương nhiên xóa án tích.

Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Thứ nhất, các tội tại chương XIII là Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; và chương XXVI là các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. Nếu thuộc một trong hai nhóm này người bị kết án sẽ không được đương nhiên xóa án tích.

Ngoài ra các nhóm tội còn lại nếu khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Theo khoản 2 điều luật quy định về các thời hạn mà khi hết thời hạn này người bị kết án đã chấp hành xong bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới thì đương nhiên được xóa án tích. Thời hạn này được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo cũng như đã thực hiện xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.
Các hình phạt bổ sung đối với cá nhân phạm tội theo khoản 2 điều 32 bộ luật hình sự bao gồm:

a) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

b) Cấm cư trú;

c) Quản chế;

d) Tước một số quyền công dân;

đ) Tịch thu tài sản;

e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

g) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Trong trường hợp người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

Cơ quan có thẩm quyền quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

Trân trọng!