1. Xử lý khoản nợ có bảo đảm khi doanh nghiệp mở thủ tục phá sản thế nào?

Theo Điều 53 của Luật Phá sản 2014, việc xử lý khoản nợ có bảo đảm của doanh nghiệp sẽ được thực hiện như sau:

- Xử lý trong thời gian thực hiện thủ tục phá sản:

+ Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ đề xuất Thẩm phán về cách xử lý khoản nợ có bảo đảm theo quy định tại Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ.

+ Nếu không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm không cần thiết cho việc này, khoản nợ có bảo đảm sẽ được xử lý theo thời hạn quy định trong hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn, trước khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, Tòa án nhân dân sẽ đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm theo quy định tại Điều này.

- Xử lý tài sản bảo đảm có nguy cơ mất giá trị: Nếu tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc giảm đáng kể về giá trị, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ đề xuất Thẩm phán cho phép xử lý ngay tài sản bảo đảm đó.

- Thực hiện xử lý tài sản bảo đảm:

+ Khoản nợ có bảo đảm sẽ được thanh toán bằng tài sản bảo đảm trong trường hợp tài sản này được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

+ Nếu giá trị của tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ số nợ, phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Trong trường hợp giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ, phần chênh lệch sẽ được nhập vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

 

2. DN bị tuyên mất khả năng thanh toán khi giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm mà doanh nghiệp phải thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm?

Theo quy định của Điều 64 trong Luật Phá sản 2014, các điều kiện và phạm vi của tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được xác định như sau:

- Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bao gồm:

+ Tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sở hữu tại thời điểm Tòa án nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản.

+ Tài sản và quyền tài sản thu được sau ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản.

+ Giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá số tiền nợ phải thanh toán cho chủ nợ đã được bảo đảm.

+ Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.

+ Tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

+ Tài sản và quyền tài sản thu được từ việc thu hồi giao dịch vô hiệu.

+ Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.

- Tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh mất khả năng thanh toán gồm:

+ Tài sản được quy định như trên;

+ Tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung, phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định có liên quan.

- Trường hợp hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, việc xử lý tài sản không chia được thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp tác xã.

Khi giá trị của tài sản đảm bảo vượt quá số tiền nợ được bảo đảm mà doanh nghiệp phải thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm, thì phần tài sản đó của doanh nghiệp sẽ bị coi là mất khả năng thanh toán. Điều này đồng nghĩa với việc tài sản không còn đủ để đảm bảo việc thanh toán nợ và sẽ được coi là một phần của tài sản không thể sử dụng để giải quyết nghĩa vụ thanh toán trong quá trình phá sản của doanh nghiệp. Điều này thường điều chỉnh quy định về ưu tiên sử dụng tài sản trong quá trình giải quyết nợ, đặc biệt là trong trường hợp tài sản đảm bảo vượt quá số tiền nợ.

 

3. Khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ 

Theo Điều 54 của Luật Phá sản 2014, thứ tự phân chia tài sản trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản được xác định như sau:

- Chi phí phá sản: Bao gồm các chi phí phát sinh từ việc thực hiện quy trình phá sản.

- Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết: Đây là các khoản nợ phải được ưu tiên trả cho nhân viên, công nhân theo các điều khoản trong hợp đồng lao động và thỏa ước lao động.

- Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã: Đây là các khoản nợ mới phát sinh nhằm tái cơ cấu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau quy trình phá sản.

- Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ: Đây là các khoản nợ phải được trả theo sự ưu tiên được xác định để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, bao gồm Nhà nước, chủ nợ và các bên liên quan khác.

Doanh nghiệp, sau khi đã thanh toán các chi phí phá sản và nghĩa vụ tài chính ưu tiên như đã nêu, tiếp tục sẽ sử dụng tài sản để trả các khoản nợ còn lại mà không đảm bảo được thanh toán do giá trị tài sản đảm bảo không đủ để chi trả nợ. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định và ưu tiên các khoản nợ để đảm bảo rằng các chủ nợ được thanh toán một cách công bằng và hiệu quả dưới sự giám sát của Thẩm phán và các cơ quan có thẩm quyền.

 

4. Có bảo đảm thành nợ có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp khi có quyết định mở thủ tục phá sản? 

Theo quy định tại Điều 48 của Luật Phá sản 2014, sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp và hợp tác xã bị cấm thực hiện các hoạt động sau:

- Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản: Doanh nghiệp, hợp tác xã không được thực hiện bất kỳ hoạt động nào nhằm che giấu, rải rác hoặc tặng bất kỳ tài sản nào của mình sau khi quyết định mở thủ tục phá sản.

- Thanh toán khoản nợ không có bảo đảm: Trừ trường hợp thanh toán khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định, doanh nghiệp, hợp tác xã không được thanh toán khoản nợ này.

- Từ bỏ quyền đòi nợ: Doanh nghiệp, hợp tác xã không được từ bỏ quyền đòi nợ, tức là không được từ chối quyền lợi của mình trong việc yêu cầu trả nợ từ bên nợ.

- Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần: Doanh nghiệp, hợp tác xã cấm chuyển đổi khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc chuyển đổi nợ có bảo đảm một phần bằng tài sản của mình sau khi quyết định mở thủ tục phá sản.

Quý khách xem thêm bài viết sau: Các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp như thế nào ?

Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng.