1. Mục đích của ly hôn giả tạo

Mục đích của ly hôn giả tạo Ly hôn giả tạo thực chất có thể là việc lợi dụng ly hôn nhằm mục đích sau:

- Trốn tránh nghĩa vụ về tài sản.

Ví dụ: Vợ chồng thỏa thuận ly hôn giả tạo để chia tài sản nhưng toàn bộ tài sản của một bên đều chuyển giao hết cho bên kia nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

- Vi phạm chính sách, pháp luật về dân số: Vợ, chồng tiến hành ly hôn giả tạo để sinh con thứ ba.

- Ly hôn giả tạo để đạt mục đích khác mà không nhằm chấm dứt hôn nhân: Đó là trường hợp vợ, chồng lợi dụng việc ly hôn nhằm mục đích xuất, nhập cảnh, xuất khẩu lao động.

Ly hôn giả tạo được xem là hành vi trái pháp luật và được xem là hành vi bị cấm theo điểm a khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình quy định cấm hành vi “kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo.

Để đạt được mục đích cá nhân, không hiếm cặp vợ chồng dù đang chung sống hạnh phúc vẫn tìm cách qua mặt pháp luật để ly hôn. Sau khi ly hôn “giả” (chấm dứt về mặt pháp lý nhưng vẫn chung sống với nhau), nhất là khi những toan tính không đạt được như những gì họ suy tính rất dễ dẫn đến tổn thương, vỡ mộng và ly hôn thật.

Ly hôn giả tạo dù bị pháp luật cấm nhưng một khi được công nhận bởi bản án thuận tình ly hôn thì về mặt pháp lý, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau đã kết thúc. Cách giải quyết hậu quả chỉ còn con đường hợp pháp duy nhất là cả 2 đăng ký kết hôn lại, chứ rất khó phủ nhận bản án ly hôn trước đó.

Dù vậy, khi vợ chồng đã ly hôn rồi muốn quay trở lại kết hôn cũng phải tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như: tự nguyện, không được kết hôn giả tạo, phải là người chưa có vợ, chưa có chồng, không mất năng lực hành vi dân sự… Riêng với trường hợp vợ hoặc chồng đã ly hôn mà có quốc tịch nước ngoài, định cư ở nước ngoài thì việc kết hôn lại thủ tục sẽ phức tạp hơn so với công dân Việt Nam kết hôn với nhau.

Hành vi ly hôn giả như con dao 2 lưỡi, mặc dù giúp cho vợ chồng đạt được mục đích cá nhân nhưng cũng mang nhiều rủi ro, hậu quả như: sau khi ly hôn giả, người này đã chia hết phần tài sản của mình cho người kia, về sau muốn đòi lại tài sản không được. Hoặc nếu phát hiện vợ hoặc chồng mình ngoại tình cũng không thể thực hiện các quyền nhân thân, quyền tài sản liên quan đến hôn nhân, vì về mặt pháp lý, 2 người đã không còn là vợ chồng.

 

2. Xử lý ly hôn giả tạo như thế nào?

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng khi cả hai hết yêu thương, tôn trọng và muốn gắn bó với nhau. Căn cứ để pháp luật chấp nhận ly hôn như: vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Có 2 hình thức chấm dứt hôn nhân: do cả hai bên vợ chồng thuận tình và được tòa án công nhận bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc đơn phương yêu cầu ly hôn, nghĩa là chỉ do một bên yêu cầu, được tòa án đưa ra xét xử và phán quyết bằng một bản án cho ly hôn.

Trong trường hợp tòa án xem xét thấy việc ly hôn là giả tạo, nhằm thực hiện mục đích khác, tình trạng vợ chồng chưa trầm trọng, chưa có căn cứ ly hôn thì sẽ không chấp nhận yêu cầu ly hôn đó. Ngược lại, khi tòa án cho ly hôn thì về mặt pháp lý dù là ly hôn giả tạo thì hậu quả pháp lý giống như ly hôn thật. Tức là sẽ chấm dứt quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Lúc này, pháp luật không thể bảo vệ quyền làm chồng hay làm vợ của những người đã ly hôn, bất kể nội tình sự việc là giả hay thật. Do đó, các cặp vợ chồng không nên vì những toan tính thực dụng mà quyết định ly hôn giả để rồi phải trả giá đắt về hạnh phúc gia đình.

Chế tài hành chính đối với hành vi ly hôn giả tạo sẽ căn cứ theo quy định tại điểm d và đ, Khoản 2, Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15-7-2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định, phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với hành vi:

- Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.

Bên cạnh đó, nếu người có hành vi ly hôn giả tạo là cán bộ, công chức, viên chức thì còn bị áp dụng thêm hình thức kỷ luật theo Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18-9-2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức như sau: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, buộc thôi việc… tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, tái phạm.

Còn đối với đảng viên vi phạm thì căn cứ Điều 24 Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15-11-2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm thì tùy từng trường hợp, mức độ, hậu quả vi phạm mà đảng viên có hành vi ly hôn trái pháp luật có thể bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức hoặc khai trừ.

 

3. Xử lý việc ly hôn giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ

Đối với những vụ ly hôn giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ bồi hoàn tài sản cho nhà nước, nhằm tổ tán tài sản do phạm tội mà có, cơ quan chức năng cần làm rõ và có thể hủy bỏ quyết định, bản án ly hôn trái pháp luật, thu hồi tài sản do phạm tội mà có để xử lý theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp phát hiện ra người vợ, người chồng của bị can giúp sức cho bị can trong việc tẩu tán tài sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tài sản vào mục đích khác để hợp thức hóa nguồn gốc tài sản thì người này còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm và tội rửa tiền theo quy định của bộ luật hình sự. Trường hợp quá trình điều tra vụ án hình sự mà bị can có nghĩa vụ trả tiền cho tổ chức cá nhân phải bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra nhưng trước đó đã thực hiện các hành vi tẩu tán tài sản bằng các hợp đồng, giao dịch hoặc ly hôn giả thì cơ quan chức năng cũng có thể kiến nghị với tòa án xem xét hủy bỏ các giao dịch, thủ tục đó theo quy định của pháp luật.

Vấn đề thu hồi tài sản do phạm tội mà có vẫn là vấn đề nan giải của nhiều năm nay. Theo thống kê từ các bạn án trong các vụ án thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng và chức vụ thì tỷ lệ thu hồi tài sản do phạm tội mà có rất thấp trong đó có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân là người phạm tội không còn tài sản. Bởi vậy đối với những vụ án gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước hoặc chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản thì cơ quan chức năng cần làm rõ những tài sản mà bị can bị cáo đứng tên trước đó, làm rõ các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, phân chia tài sản chung vợ chồng và các giao dịch khác để chuyển dịch quyền sở hữu tài sản có vi phạm điều cấm của pháp luật không, có dấu hiệu tẩu tán tài sản hay không để hủy bỏ các giao dịch này, thu hồi tài sản cho nhà nước.

Ngoài ra với những người thân thích của bị can bị cáo mà lại đứng tên các tài sản lớn nhưng không chứng minh được thu nhập nguồn gốc thì cũng có thể xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật, trong đó có thể tịch thu phải xử lý về hành vi rửa tiền, che giấu tội phạm nếu hành vi thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của các tội danh này.

Trong trường hợp có căn cứ cho thấy việc ly hôn này có kèm theo việc thỏa thuận phân chia tài sản phần lớn cho người vợ thì cơ quan chức năng cũng sẽ làm rõ động cơ mục đích của hành vi này là gì?. Đồng thời làm rõ trách nhiệm dân sự của bị can này đối với vụ án hình sự đang xử lý. Trong trường hợp tòa án kết tội và tuyên về trách nhiệm dân sự bồi thường, khắc phục hậu quả, phải hoàn trả tài sản do phạm tội mà có mà trước đó bị can này đã có các giao dịch nhằm chuyển quyền sở hữu tài sản hoặc thỏa thuận phân chia tài sản chung vợ chồng thì cơ quan chức năng cũng có thể xem xét đánh giá tính hợp pháp của các giao dịch này, nếu có căn cứ cho thấy có động cơ tẩu tán tài sản để trốn tránh trách nhiệm dân sự thì tòa án có quyền hủy bỏ các giao dịch này theo quy định pháp luật.

Bài viết tham khảo: Xử lý việc kết hôn giả với người nước ngoài muốn kết hôn với người Việt ?

Bài viết trên Luật Minh Khuê, trong bài viết có mục nào chưa hiểu hay bạn đọc có bất kỳ thắc mắc về vấn đề pháp lý có thể liên hệ qua số tổng đài 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ.