1. Xử lý tranh chấp khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất ?

Kính chào Luật sư, Xin Luật sư cho tôi hỏi vấn đề như sau: Năm ngoái (2018) tôi có mua một thửa đất rộng 12m, dài 60m tại PQ. Trước khi mua đất này không có sổ đỏ chỉ có sơ đồ. Chủ đất là hai anh em P và T đứng ra bán cho tôi nói là đất này sang năm sẽ làm sổ đỏ và sẽ sang tên cho tôi.
Khi tôi mua có hợp đồng mua bán và có sự chứng nhận của trưởng ấp (có mộc vuông, tuy nhiên ông này mới chết cuối năm ngoái) và những người ký giáp danh với đất của tôi. Cho đến tháng 6/2015 chủ đất đã làm được sổ đỏ cho thửa đất trên nhưng trên sổ đỏ lại có thêm người thứ 3 đứng tên nữa là M. Bây giờ P và T nói ủy quyền lại cho anh M đứng tên có tất cả quyền hành quyết định thửa đất trên. Anh M là người ngang ngược nói là đất của anh ấy khi bán anh ấy ko ký nên giờ thửa đất này là của anh ấy và gọi người khác bán với giá cao gấp 3 lần số tiền mà tôi mua. (rất có thể 3 anh em này âm mưu thông đồng với nhau ủy quyền cho anh M không mua bán với tôi để chiếm đoạt tài sản của tôi nếu bán được cho người khác thì sẽ sang tên cho người khác và lúc đó tôi mất hết).
Xin Luật sư cho tôi hỏi với hợp đồng mua bán có trưởng ấp ký trên đất ko có sổ đỏ như trên ra tòa có được giải quyết pháp lý không? Và tôi có khả năng thắng kiện ko? 3 anh em P, T, M có được ghép vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ?
Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai, gọi:1900.6162

Trả lời:

1. Điều kiện để thực hiện các quyền của người sử dụng đất ?

Theo Luật đất đai 2013 thì điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận,
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật đất đai 2013
Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

2. Các quyền chung của ngừoi sử dụng đất ?

Theo luật đất đai năm 2013 có quy định cụ thể về quyền chung của người sử dụng đất

- Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

- Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

- Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

- Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

- Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

=> Như vậy có nghĩa là, theo những quy định ở trên đây thì ông P và ông T khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có đủ điều kiện để thực hiện quyền chuyển nhượng, hay nói cách khác là hợp đồng của bạn với ông P và ông T là vô hiệu, và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên, các bên trao trả lại cho nhau những gì đã nhận. Ở đây, bạn có thể làm đơn đề nghị yêu cầu hòa giải lên ủy ban nhân dân xã/phường để hòa giải hoặc làm hồ sơ khởi kiện lên tòa án nhân dân cấp quận/huyện để giải quyết.

3. Hành vi này có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không ?

Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 được cấu thành bởi các yếu tố cụ thể như sau:

Mặt khách quan​
Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự
- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …, hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng, hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý, hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi đều có dấu hiệu gian dối.
Dấu hiệu khác
Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý
Lưu ý:
Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định
Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

=> Như vậy, có nghĩa là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nó được cấu thành bởi nhiều mặt, nhiều yếu tố như đã nói ở trên, hay nói cách khác là chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối và thủ đoạn đó là có mục đích. Ở đây, muốn kết luận ông P và ông T có cấu thành lên tội này hay không thì còn phải xét đến nhiều mặt khách quan, chủ quan, chủ thể, khách thể như đã đề cập ở trên đây.

2. Tư vấn về tranh chấp khi bán đất không có hợp đồng công chứng?

Kính chào Luật sư của công ty Luật Minh Khuê! . Rất mong nhận được sự tư vấn của quý vị để gia đình tôi nhận lại được quyền lợi của mình! Thưa luật sư! Năm 2011, gia đình tôi có mua 21,25m2 đất của hàng xóm sát đất nhà tôi đang ở với mục đích gộp diện tích đất đó vào để đi chung lối đi với họ cho thuận tiện.
Thời điểm đó đất cũ của gia đình tôi chưa có sổ đỏ nên chưa hợp thửa được, và theo tôi biết luật lúc đó quy định diện tích đất mua nhỏ hơn 30 m2 thì ko tách riêng làm sổ đỏ được. Một phần lại tin tưởng hàng xóm nên giấy tờ mua bán của 2 bên thiếu xác nhận của cơ quan chức năng, chỉ có chữ ký, tên người làm chứng và vợ chồng 2 bên ký tên điểm chỉ.Thời gian sau, gia đình tôi muốn hỏi đất để hợp thửa và mở lối đi mới nhưng bên bán ko hợp tác. Sau qua tìm hiểu tôi được biết bên bán đã tiếp tục chuyển nhượng số diện tích đất gia đình tôi đã mua cho người khác.
Rất mong luật sư tư vấn giúp tôi nếu tôi khởi kiện thì đó đã được coi là án hình sự với tội danh " lừa đảo chiếm đoạt tài sản" không ạ?
Mong sớm nhận được hồi âm! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại bộ luật dân sự 2015 thì:

10. Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Như vậy, theo quy định trên, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, đây là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự. Trong trường hợp của bạn, gia đình bạn lại thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với gia đình hàng xóm mà lại chỉ có văn bản, chữ ký của hai bên mà không có việc chứng nhận từ việc công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện hợp đồng như vậy là không tuân thủ quy định của pháp luật về hình thứ, là một trong những căn cứ làm cho hợp đồng này bị vô hiệu. Theo đó, hậu quả của hợp đồng dân sự vô hiệu được quy định như sau:

"Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định....."

Như vậy, hợp đồng mua bán mảnh đất trên của gia đình bạn với người kia lúc này bị vô hiệu, và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo đó, gia đình hàng xóm lúc này có thể bán quyến sử dụng mảnh đất trên cho người khác, nhưng phải trả lại khoản tiền trên cho gia đình nhà bạn. Nếu người này không trả, gia đình bạn có quyền làm đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có mảnh đất để buộc người này phải trả tiền. Thậm chí, nếu họ có hành vi trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ như bỏ trốn, hay chuyển đi nơi khác...thì gia đình bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của người này về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ luật hình sự .

3. Chia lại đất khi có tranh chấp như thế nào?

Kính chào luật sư, tôi có một vấn đề rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư: Chia lại đất khi có tranh chấp có được không?

Thưa luật sư, gia đình tôi đang chanh chấp đất đai:gia đình tôi và nhà bác trưởng, ông tôi mất có để lại di chúc nhưng không rõ ràng. Sau nhiều lần thỏa thuận thì 2 gia đình là bố tôi và bác ở 1/2 diện tích đất,1 người 1/2 diện tích đất bên trong, và 1 người ở 1/2 diện tích đất bên ngoài. Vừa rồi 2 gia đình đồng ý chia ngang theo đường bê tông mỗi người 1/2 diện tích đất. Nhưng khi tiến hành thì bác trưởng lại không đồng ý nữa. Bây giờ bà tôi còn sống, minh mẫn muốn chia lại tài sản là mảnh đất đang tranh chấp trong gia đinh để gia đình yên ổn, anh em hòa thuận.

Vậy bây giờ bà tôi có quyền chia lại hay không ? Và chia lại thì cần có sự chứng kiến của các con gái hay không, cũng như sự chứng kiến của 2 gia đình chúng tôi? ( khi con gái và gia đình tôi đều ở xa ) chúng tôi có thể nhờ hàng xóm láng giềng làm chứng được không?

Mong luật sư giải đáp cho tôi. Xin cảm ơn !

Người gửi: Nguyen Nhu

>> Luật sư tư vấn chia lại đất khi có tranh chấp, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thông tin bạn nêu không rõ đây là tài sản chung của ông bà bạn hay tài sản riêng của ông bạn. Nếu là tài sản chung của vợ chồng giữa ông ngoại và bà ngoại của bạn, chỉ ½ khối tài sản nêu trên được xác định là di sản thừa kế của ông bạn, phần còn lại thuộc phần sở hữu của bà ngoại bạn.Do bạn không nêu rõ di chúc nêu trên là di chúc của riêng ông bạn hay di chúc chung của vợ chồng có xác nhận của cả ông ngoại và bà ngoại của bạn nên cần phân biệt 2 trường hợp sau:

Như vậy nếu đó là di chúc chung của ông bà bạn mà hiện nay ông bạn đã mất nhưng bà bạn vẫn còn nên , bà bạn có quyền sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan phần quyền tài sản của bà bạn nhưng không có quyền sửa đổi phần di sản của ông bạn để lại.

Nếu là di chúc riêng của ông bạn thì Việc phân chia di sản được thực hiện theo Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc

Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc

1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.

Để xác định xem di chúc của ông ngoại bạn có hợp pháp hay không thì bạn có thể đối chiếu với quy định sau đây: Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Theo quy định trên: Nếu đó là tài sản riêng của ông bạn thì bà bạn không có quyền sửa dổi di chúc. Nếu đó là di chúc chung của ông bà thì bà bạn chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc chung, mà không thể thay thế, hủy bỏ di chúc chung đó; đồng thời, nếu bà bạn sửa đổi, bổ sung di chúc chung thì chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự, di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản bao gồm: di chúc không có người làm chứng; di chúc có người làm chứng; di chúc có công chứng; di chúc có chứng thực.
Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

4. Tranh chấp về đất đai khi bố mất?

Xin chào luật sư. Tôi có câu hỏi mong nhận được tư vấn của luật sư. Bố tôi mất có để lại 2 thửa đất có sổ đỏ mang tên bố là người đại diện sở hữu. Sau đó, Mẹ, các anh chị em tôi bàn bạc ký giấy và công chứng, sang tên sổ đỏ cho anh tôi với tinh thần là nếu có vấn đề gì với mảnh đất hương hỏa này thì cùng nhau chia sẻ.

Nhưng đến nay vẫn chưa sang tên được sổ đỏ. Hiện thửa đất đó nằm trong dự án làm đường cao tốc và đã được đền bù. Mẹ tôi muốn chia tiền bồi thường đất đó cho mọi người trong gia đình, nhưng anh không đồng ý, không cho chia, anh chiếm lấy hết. Anh tôi bảo rằng, mọi người và mẹ tôi đã đồng ý ký giấy sang tên rồi thì không có quyền đòi hỏi gì nữa.

Vậy tôi xin hỏi:

1. Hiện 2 thửa đất đó vẫn mang tên bố tôi, mẹ tôi còn có quyền phân chia tài sản đất đai , tiền đền bù đó nữa không?

2. Nếu 2 thửa đất đó đã sang tên cho anh , khi chúng tôi ký giấy đồng ý cho anh sang tên với tinh thần anh em tin tưởng nhau sau này có bán đất hay được đền bù thì cùng được hưởng, mẹ tôi là người làm chứng cho điều này. Nhưng anh lại nuốt lời, không chịu chia tiền đền bù. Vậy, trong trường hợp này chúng tôi có được đòi hỏi gì không, có thể nhờ pháp luật can thiệp được không?

3. Mọi thủ tục, giấy tờ sang tên sổ đỏ cho anh, đến nay đã gần 2 năm mà không đổi được sổ đỏ, vậy nó còn giá trị pháp lý nữa không ạ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về mặt nguyên tắc, 2 mảnh đất này là tài sản thừa kế do bố bạn để lại mà không có di chúc, do đó tài sản này sẽ phân chia theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 2 Điều 620 bộ luật dân sự 2015

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

Việc mẹ và anh chị em bạn đã kí giấy tờ công chứng để sang tên sổ đỏ cho anh bạn như thông tin mà bạn cung cấp tức là đã thừa nhận việc không nhận di sản thừa kế. Do vậy, mẹ không có quyền phân chia di sản hay tiền đền bù.

Theo quy định của pháp luật dân sự, mọi giao dịch dân sự được xác lập không trái đạo đức, trái quy định pháp luật thì được pháp luật bảo hộ. Nếu có thể chứng minh được việc anh em bạn có giao kết nội dung: " sau này có bán đất hay được đền bù thì cùng được hưởng" thì bạn hoàn toàn có thể nhờ tới sự can thiệp của pháp luật. Đây là tranh chấp đất đai, do đó, bạn có thể gửi đơn khởi kiện đến tòa án nơi có bất động sản trên.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 61 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định về thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là không quá 30 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ. Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian tối đa 03 ngày, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định. Như vậy, để được cấp sổ đỏ, anh bạn cần phải làm lại thủ tục trên dựa trên các loại giấy tờ đã có và các loại giấy tờ bổ sung khác (nếu cần bổ sung). Các loại giấy tờ này vẫn có hiệu lực pháp luật cho dù anh bạn vẫn chưa thực hiện việc sang tên được.

5. Tư vấn về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề ?

Thưa luật sư, tôi có thắc mắc muốn nhờ luật sư trả lời giúp. Năm 1990, gia đình tôi làm nhà có chừa chỗ đất giáp ranh với nhà bên cạnh là 1 mét. Sau đó, gia đình nhà bên cạnh đào ao ngay cạnh nhà tôi và đào hết diện tích họ có, nhà tôi đã xây tường chắn. Hiện nay, gia đình bên cạnh lại đào sâu thêm 3 mét.
Tôi muốn hỏi, họ làm như vậy có đúng vơi quy định của pháp luật không? Gia đình tôi phải làm như thế nào trong trường hợp này?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: LV DIện

>> Tư vấn về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp gia đình bên cạnh nhà bạn đào ao, đào hết diện tích họ có (ranh giới đất) và hiện nay họ lại tiếp tục đào sâu thêm 3m nữa không vi phạm quy định pháp luật bởi theo bộ luật dân sự 2015

Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản

1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Luật Minh Khuê