Thưa luật sư, xin luật sư cho tôi hỏi: Xung đột lợi ích là gì? Xung đột lợi ích có ảnh hưởng gì tới phòng, chống tham nhũng? Rất mong nhận được tư vấn từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Tuấn Hùng - Nam Định

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018

- Nghị định số 59/2019/NĐ-CP

1. Tham nhũng là gì?

Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật chất trái pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức.

Các hành vi tham nhũng cụ thể sau: tham ô, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng tài sản đưa hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ; lạm quyền trong khi thi hành công vụ để vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để vụ lợi; giả mạo trong công tác để vụ lợi.

2. Xung đột lợi ích là gì?

Xung đột lợi ích là tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

3. Trường hợp xung đột lợi ích theo Luật phòng, chống tham nhũng

Đây là điểm mới nổi bật tại Nghị định 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng 2018.

Theo đó, Nghị định 59 làm rõ các trường hợp được xác định là có xung đột lợi ích tại Luật phòng, chống tham nhũng.

Cụ thể là khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người có chức vụ, quyền hạn thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp tại Điều 29 Nghị định 59; đơn cử như:

+ Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc quản lý;

+ Thành lập, quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, CTCP,…trừ trường hợp luật có quy định khác;

+ Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

+ Bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con,…của mình giữ chức vụ quản lý về kế toán, thủ quỹ, thủ kho,…trong cơ quan, đơn vị do mình là người đứng đầu;

+ Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi…

4. Mối quan hệ giữa xung đột lợi ích và tham nhũng

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đều thừa nhận lợi ích là động lực của mọi hoạt động của con người trong xã hội, là động lực của sự phát triển. Có thể khẳng định rằng, lợi ích kinh tế là động lực cơ bản, là mục tiêu hoạt động của con người và là nguồn gốc của sự phát triển xã hội, đó cũng chính là mục tiêu của những kẻ cầm quyền “tha hoá”, tham nhũng. Mác đã từng nói rằng, cội nguồn của sự phát triển xã hội không nằm trong quá trình nhận thức mà ở trong các quan hệ vật chất, tức là trong các lợi ích kinh tế của con người.

Trong tư duy biện chứng, xung đột nói chung và xung đột lợi ích nói riêng được đề cập ở khía cạnh đấu tranh của các mặt đối lập. Xung đột lợi ích là trạng thái đấu tranh, tương khắc của các lợi ích với tính cách là những mặt đối lập trong một quan hệ lợi ích nhất định. Xung đột lợi ích có thể xảy ra giữa các chủ thể khác nhau hoặc trong cùng một chủ thể.

Sự xung đột giữa lợi ích công và lợi ích tư đặt cán bộ, công chức vào sự lựa chọn khó khăn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Đấu tranh chống tham nhũng là đấu tranh với thói hư tật xấu, là việc chống lại sự lợi dụng quyền lực để mưu lợi cá nhân, chống lại sự tha hoá của những người thực thi quyền lực.

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng là sự đấu tranh giữa lợi ích công và lợi ích tư. Cuộc đấu tranh này không chỉ là sự đấu tranh với sự lạm dụng quyền lực để thu vén cho lợi ích cá nhân, mà còn xảy ra ngay trong bản thân mỗi công chức trong quá trình thực thi công vụ của mình, đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa trách nhiệm và đạo đức công vụ với những nhu cầu cá nhân thôi thúc.

Đấu tranh chống tham nhũng không chỉ là việc đưa những giải pháp, những phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng mà ngày nay, người ta đặc biệt coi trọng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng như là trọng tâm căn bản của cuộc chiến khó khăn này. Các biện pháp phòng ngừa hướng tới việc làm triệt tiêu các nguy cơ tham nhũng ngay khi nó còn là khả năng, mầm mống xuất hiện những mâu thuẫn hay xung đột lợi ích, chưa “phát tác” và vi phạm pháp luật. Nguy cơ thường được hiểu như là trạng thái tiềm tàng mà nếu không có giải pháp ngăn chặn xử lý, nó sẽ trở thành hiện thực với những hành vi phạm pháp. xung đột lợi ích là một nguy cơ như vậy. Xung đột lợi ích là trạng thái, tình huống, trong khi tham nhũng là hành vi hiện thực. Vì vậy, nó cần được nhận diện, kiểm soát và xử lý kịp thời, không để dẫn đến hành vi lợi dụng công quyền mà tư lợi, tham nhũng.

5. Quan niệm quốc tế về kiểm soát xung đột lợi ích

Theo quan niệm phổ biến, xung đột lợi ích là những tình huống cụ thể phát sinh khi công chức có thể đưa ra quyết định hoặc thực hiện hành vi có lợi cho mình trong hoạt động công vụ, qua đó làm phát sinh tham nhũng. xung đột lợi ích khác tham nhũng ở chỗ nó mới chỉ là trạng thái mà chưa phải là hành vi vi phạm pháp luật.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), “Xung đột lợi ích là tình huống trong đó một cán bộ, công chức, trong thẩm quyền chính thức của mình, đưa ra hoặc phải đưa ra các quyết định, hoặc có những hành động có thể tác động tới lợi ích cá nhân của họ”

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc xây dựng quy tắc ứng xử có điểm chung là đều xoay quanh việc giải quyết vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ của các nhân viên công quyền. Có thể nói, sự cần thiết và tầm quan trọng của việc nhận dạng và giải quyết xung đột lợi ích đối với việc thúc đẩy và giữ gìn tính liêm chính và sự minh bạch của nền hành chính công đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới nhận thức một cách đầy đủ và từ đó định ra cho mình lộ trình, hành động, biện pháp cụ thể nhằm góp phần phòng ngừa tham nhũng.

Ngày 12/12/1996, Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) ra Nghị quyết số 51/59 về Hành động chống tham nhũng, trong đó nêu rõ: Công chức không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình để có được lợi thế hoặc lợi ích tài chính bất hợp pháp cho mình và gia đình mình; không được tham gia vào bất kỳ giao dịch nào, tiếp nhận vị trí hay trách nhiệm nào hoặc có bất kỳ lợi ích tài chính nào không tương thích với chức trách, nhiệm vụ của mình. Phần này cũng quy định về việc kê khai những hoạt động về tài chính hoặc hoạt động khác mà công chức thực hiện để kiếm tiền ngoài giờ làm việc và có thể dẫn đến, hoặc tiềm ẩn nguy cơ gây xung đột lợi ích.

Theo kết quả khảo sát do LHQ tiến hành, đa số các quốc gia thành viên đều đã đưa quy tắc ứng xử vào các chính sách và pháp luật trong nước với những quy định cụ thể và phù hợp với từng lĩnh vực. Nội dung của các bộ quy tắc ứng xử đó đều tập trung xoay quanh những nguyên tắc và vấn đề chung bao gồm: sự tận tụy, tính hiệu quả, hiệu lực, liêm chính, công bằng, không thiên vị, việc lạm dụng chức vụ, quyền hạn và việc tặng - nhận quà cũng như các lợi ích khác.

Một số quốc gia có quy định yêu cầu công chức, trong trường hợp có nảy sinh xung đột lợi ích, phải kê khai về những lợi ích thu được qua hoạt động kinh doanh, thương mại, tài chính và các hoạt động khác được thực hiện nhằm mục đích kiếm tiền. Một số quốc gia thì đề ra những quy định cụ thể để điều chỉnh những tình huống như trong vòng 5 năm kể từ sau khi thôi giữ chức vụ mà công chức được nhận hoặc có được cổ phần, việc làm hoặc lợi ích dưới bất kỳ dạng thức nào khác từ phía một công ty tư nhân hoặc nhà nước mà công chức đó thực thi trách nhiệm theo dõi hoặc giám sát.

Bộ quy tắc ứng xử mẫu của LHQ đưa ra định nghĩa tương đối rộng về những tình huống có thể gây xung đột lợi ích, theo đó, bất kỳ tình huống nào mà ở đó công chức có lợi ích cá nhân và nó ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của công chức khi thực thi công vụ. Do vậy, Bộ quy tắc này khuyến nghị một loạt vấn đề để tránh rủi ro xung đột lợi ích đối với công chức:

- Công chức đó phải báo cáo ngay với cấp có thẩm quyền về xung đột khi nhận thức được về nó và phải tuân thủ đúng những gì mình được yêu cầu phải làm. Mọi xung đột về lợi ích cần phải được giải quyết trước khi tuyển dụng người mới hoặc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ mới.

- Công chức không được tham gia vào những hoạt động bên ngoài khi mà hoạt động đó xung đột với chức năng, nhiệm vụ của mình. Nếu không rõ về vấn đề gì thì phải yêu cầu được giải thích. Công chức phải xin phép và được phép của cấp có thẩm quyền thì mới được tham gia vào công việc ở bên ngoài (cho dù có được trả tiền hay không).

- Công chức phải khai báo về tư cách thành viên hoặc mối quan hệ với bất kỳ tổ chức nào mà có thể gây ra sự cản trở đối với việc thực thi công vụ của mình; đồng thời, trong cuộc sống riêng tư hay trong công việc, công chức không được đặt mình vào tình huống mà mình bắt buộc phải trả ơn người khác bằng một ưu đãi hay ân huệ nào đó.

Cùng với những quy định trên, đa số các quốc gia đều có chính sách và pháp luật nhằm bảo đảm trách nhiệm giải trình của công chức về hành vi, quyết định mà họ thực hiện khi thi hành công vụ; đồng thời yêu cầu các công chức phải giải trình về những quyết định và hành vi hành chính đã được tiến hành mà ảnh hưởng đến lợi ích của công dân. Các biện pháp xử lý vi phạm cũng được áp dụng đối với những loại hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm đạo đức.

6. Vấn đề xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích ở Việt Nam

6.1. Kiểm soát xung đột lợi ích trong lịch sử

XĐLI không phải là vấn đề mới ở Việt Nam. Trong các văn bản pháp luật từ trước đến nay đã có những quy định để loại trừ sự “thiên vị” hay những tình huống có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của công chức trong khi thực hiện công vụ.

Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, Chính phủ đã tìm cách ngăn chặn tâm lý "một người làm quan cả họ được nhờ", tình trạng bè cánh, cục bộ trong cán bộ. Trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ viết ngày 1/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình, kiểm thảo "Những đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được".

Từ thời phong kiến, việc này cũng được thực hiện khá nghiêm ngặt thông qua Luật "Hồi tỵ". Luật Hồi tỵ được áp dụng ở Nhà nước phong kiến Việt Nam trong các thời Lê, Nguyễn. "Hồi tỵ", được Hán - Việt từ điển của học giả Đào Duy Anh giải nghĩa là "tránh đi". "Hồi" là trở về, "tỵ" là lánh đi (như trong chữ tỵ nạn); tức là nếu được bổ nhiệm về bản quán thì phải tránh đi. Luật Hồi tỵ được ban hành đầu tiên dưới thời vua Lê Thánh Tông. Trong bộ Lê triều Hình luật (còn gọi là Luật Hồng Đức) có quy định: "Quan lại không được lấy vợ, kết hôn, làm thông gia ở nơi mình cai quản; cũng như không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà ở nơi mình làm quan lớn, không được dùng người cùng quê làm người giúp việc".

Quy định được áp dụng từ việc cắt đặt xã quan ở các làng xã. Theo Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, thực lục nhà Lê) năm 1488, Vua Lê Thánh Tông xuống dụ quy định: "Từ nay các quan phủ, huyện, châu xét đặt xã trưởng, hễ là anh em ruột, anh em con chú, con bác, bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ cho một người làm xã trưởng, không được cho cả hai cùng làm để trừ mối tội bè phái hùa nhau". Đến năm 1497, Vua tiếp tục có dụ quy định bổ sung: "Các viên quan quản quân, quản dân nếu người nào có quê quán ở ngay phủ, huyện mình cai trị, có nhà ở nha môn mình làm việc, thì Bộ lại điều động đi nơi khác, chọn người khác bổ thay".

Sang đến thời Nguyễn, sau khi Vua Gia Long thiết lập bộ máy nhà nước, đến thời Minh Mạng, Luật Hồi tỵ còn triệt để hơn, được mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng và bổ sung những quy định mới. Năm 1831, Vua Minh Mạng ban hành Luật Hồi tỵ gồm các quy định cụ thể: Khi bố trí quan về trị nhậm các địa phương cần phải tránh những nơi: Quê gốc (quê cha) là nơi có quan hệ họ nội nhiều đời; Trú quán là nơi bản thân đã ở lâu, học hành, sinh hoạt; Quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và nơi theo học trước đây). Ai man trá các điều này sẽ bị nghiêm trị.

Ngoài các điểm chung như Luật Hồi tỵ thời Lê Thánh Tông, Vua Minh Mạng còn có nhiều quy định tích cực và triệt để hơn, như: Các dịch lại ở các nha môn, các bộ ở Kinh đô và các tỉnh là bố con, anh em ruột, anh em con chú con bác với nhau thì phải tách ra, đổi bổ đi nơi khác. Các quan lại không được làm quan ở nơi cư trú (nơi ở một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ mình; thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi. Các lại mục, thông lại cũng không được làm việc ở phủ, huyện là quê hương của mình.

Các lại mục, thông lại các nha phủ thuộc phủ huyện là người cùng làng cũng phải chuyển bổ đi nơi khác. Các quan viên từ Tham biện trở lên ở các trấn, tỉnh về Kinh đô dự đình nghị (họp bàn để quyết định một vấn đề), song trong các cuộc họp có bàn việc liên quan đến địa phương mà mình trị nhậm thì không được vào dự.

Đến năm 1836, Luật Hồi tỵ còn được bổ sung những quy định khắt khe hơn: Các quan đầu tỉnh như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Đốc học đều không được cử những người cùng chung một quê. Trong từng Bộ, Nha, Sở, Cục không được bố trí những người có quan hệ cha-con, anh-em, thông gia, thầy-trò, họ hàng...

Khi thanh tra, thụ lý án, nếu trong đó có tình tiết liên quan đến người thân phải bẩm báo để triều đình cử người khác thay thế.

Quan lại không được coi thi, chấm thi ở nơi nào có những người ruột thịt, thân quen dự thi. Nếu có, phải tâu trình thay người khác coi, chấm thi. Nghiêm cấm các quan đầu tỉnh đặt quan hệ giao du, kết thân, kết hôn với phụ nữ nơi mình trị nhậm, cấm tậu nhà, tậu ruộng… trong địa hạt cai quản của mình…

6.2. Kiểm soát xung đột lợi ích trong giai đoạn hiện nay

Kiểm soát xung đột lợi ích chính là quá trình tác động của nhân tố chủ quan đến các xung đột lợi ích hay cụ thể hơn là đến các xu hướng khách quan của sự cạnh tranh, đấu tranh giữa các lợi ích trong cùng chủ thể. Trong bối cảnh phòng, chống tham nhũng thì kiểm soát xung đột lợi ích chính là ngăn chặn hiện thực hóa từ nguy cơ trở thành tham nhũng. Điển hình và dễ nhận thấy nhất trong quy định của pháp luật hiện đại có lẽ là quy định về hồi tỵ cáo tỵ trong tố tụng. Thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân phải từ chối tham gia xét xử nếu có quan hệ nào đó với một trong các bên đương sự. Vấn đề xung đột lợi ích được quan tâm và các quy định nhằm xử lý vấn đề xung đột lợi ích ngày càng nhiều hơn kể từ khi chúng ta tăng cường các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến các giải pháp phòng ngừa, cố gắng giảm bớt các nguy cơ, điều kiện tham nhũng. Mặt khác, với tư cách là một nước thành viên tham gia Công ước của LHQ về Chống tham nhũng, Việt Nam có nghĩa vụ thực thi các quy định của Công ước trên thực tế, trong đó có chế định liên quan đến kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ.

Đáp ứng những đỏi hỏi thực tiễn trong nước và nhu cầu hội nhập quốc tế, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã có định nghĩa về xing đột lợi ích, cùng với đó trong Nghị định hướng dẫn cũng đã cụ thể hóa các trường hợp xung đột lợi ích để dễ dàng nhận diện trên thực tế. Đây là những điểm mới quan trọng của pháp luật phòng, chống tham nhũng đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn mới hiện nay.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập