- 1. Y án là gì? Thế nào là y án theo quy định pháp luật hiện hành?
- 2. Quy định về việc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm
- 3. Quy định về việc giữ nguyên bản án đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
- 4. Pháp luật quy định những ai có quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm?
1. Y án là gì? Thế nào là y án theo quy định pháp luật hiện hành?
Y án được hiểu là quyết định của Tòa án nhân dân cấp trên giữ nguyên mức án của tòa án nhân dân cấp dưới sau khi xét xử phúc thẩm. Tòa án nhân dân cấp trên ra quyết định đó trên cơ sở xác định bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân cấp dưới là có căn cứ và hợp pháp. Tại các Điều 220, 254, 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thì Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm có quyền quyết định bác bỏ kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Có trường hợp toà án nhân dân cấp trên sẽ chỉ giữ nguyên một phần phán quyết của tòa án nhân dân cấp dưới, còn các phần khác có thể bị sửa.
2. Quy định về việc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm
Kháng cáo là hành vi tố tụng sau khi xét xử sơ thẩm, nếu đương sự không đồng ý với phán quyết của tòa sơ thẩm thì có quyền chống án. Thuật ngữ pháp lý “kháng cáo” được hiểu là yêu cầu tòa cấp trên xét xử một lần nữa theo trình tự phúc thẩm.
Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án.
Tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định rõ các chủ thể kháng cáo và kháng nghị như sau:
- Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
- Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa.
- Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.
- Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.
Như vậy, khi xét thấy bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ giữ nguyên bản án sơ thẩm của tòa án. Đây là điều luật mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, quy định một trong những quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Việc bổ sung quy định này nhằm đảm bảo các quy định về quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm được đầy đủ, rõ ràng hơn so với Bộ luật Tố tụng Hình sự trước đây. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm nếu xét thấy các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật.
Bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật là bản án không vi phạm những quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng như các văn bản pháp luật khác và những kết luận trong bản án phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, các quyết định trong bản án phù hợp với tính chất và mức độ của tội phạm.
3. Quy định về việc giữ nguyên bản án đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
Giám đốc thẩm được hiểu là thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ sau đây:
+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
+ Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
Theo quy định đó, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định: Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ.”
Bản án là một văn bản tố tụng do Thẩm phán, Hội thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành để ghi nhận phán quyết của Tòa án sau khi xét xử một vụ án.
Quyết định là văn bản được ban hành trong trường hợp công bố một sự kiện hoặc giải quyết một vấn đề, một yêu cầu cụ thể nào đó, quyết định mang tính cá biệt, chỉ áp dụng đối với một hoặc một số cá nhân hoặc trong một trường hợp cụ thể: Quyết định đình chỉ vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, Quyết định tuyên bố 1 người mất tích.
Như vậy, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, “kháng nghị” ở đây sẽ được hiểu là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án. Và giữ nguyên bản án của Tòa án cấp dưới đã xét xử đúng pháp luật nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ.
Và trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án.
4. Pháp luật quy định những ai có quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm?
Điều 373 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì những người sau đây sẽ có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:
- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
- Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, bạn đọc có thể tìm hiểu tại bài viết: Không đồng ý với bản án phúc thẩm thì phải làm sao?
Trên đây là toàn bộ thông tin về "Y án là gì? Thế nào là y án theo quy định pháp luật hiện hành?" mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!