1.Thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trong trường hợp không có điều ước quốc tế

Theo luật của Ý

Một phán quyết trọng tài nước ngoài muốn có hiệu lực ở Ý thì phải được đệ trình lên Chánh án toà phúc thẩm có thẩm quyền cùng với bản gốc hoặc bản sao có chứng thực của phán quyết này và hợp đồng có điều khoản trọng tài. Chánh án toà phúc thẩm, sau khi kiểm tra phán quyết trọng tài và thấy đáp ứng các điều kiện về thủ tục đối với phán quyết trọng tài, và khẳng định rằng tranh chấp có thể được giải quyết bằng tố tụng trọng tài theo pháp luật Ý, và phán quyết trọng tài không vi phạm điều khoản bảo lưu trật tự công cộng của Ý, sẽ ra án lệnh cho phép thi hành phán quyết trọng tài. Lệnh này có thể bị kháng cáo dựa trên nhiều lí do, và nếu không bị kháng cáo thì sẽ có hiệu lực chung thẩm. Những lí do để kháng cáo lệnh này cũng giống như những lí do được quy định trong Công ước Niu Y-oóc. Quyết định của Toà phúc thẩm có thể bị Toà phá án (‘Court of Cassation’) (Toà án tư pháp tối cao của Ý) xem xét lại 64 nếu đáp ứng các điều kiện theo luật định.

Theo luật Hy Lạp

 Nếu phán quyết của trọng tài nước ngoài đáp ứng các điều kiện (ví dụ, tranh chấp có thể giải quyết bằng tố tụng trọng tài, thoả thuận trọng tài có hiệu lực, quyền bào chữa và biện hộ của các bên được tôn trọng, và các bằng chứng trong vụ kiện không bị phản đối), thì phán quyết này sẽ được tuyên là được thi hành bởi thẩm phán của toà sơ thẩm. Phán quyết của trọng tài nước ngoài cũng không được mâu thuẫn với một phán quyết được tuyên trước đó của toà án Hy Lạp (phán quyết của toà án Hy Lạp có hiệu lực ‘res judicata’) hoặc vi phạm điều khoản bảo lưu trật tự công cộng của Hy Lạp

2.Các cách tiếp cận chung về công nhận và thi hành bản án/quyết định của toà án nước ngoài

Nguyên tắc cơ bản nhất của việc công nhận bản án/quyết định của toà án nước ngoài, là: về nguyên tắc, bản án/quyết định của toà án nước ngoài không có hiệu lực trên lãnh thổ nước khác. Nếu bên thắng kiện muốn sử dụng bản án/quyết định này để yêu cầu bên thua kiện thi hành, thì phải tuân theo một thủ tục pháp lí chính thức tại toà án nước sở tại để công nhận bản án/quyết định của toà án nước ngoài có hiệu lực pháp luật trên lãnh thổ nước sở tại. Một thủ tục chính thức về công nhận bản án/quyết định của toà án nước ngoài sẽ kéo theo việc toà án nước sở tại phải xem xét một số vấn đề tố tụng khác, ví dụ, quyền tài phán của toà án nước ngoài; hiệu lực chung thẩm của bản án/quyết định của toà án nước ngoài; việc tuân thủ các nguyên tắc của công lí và nguyên tắc tuân thủ đúng các thủ tục (‘due process’); không có mâu thuẫn giữa bản án/quyết định của toà án nước ngoài và điều khoản bảo lưu trật tự công cộng của nước sở tại. Việc xem xét các vấn đề này không bao hàm việc xem xét lại các lí lẽ và lập luận nêu trong bản án/quyết định, vì tranh chấp đã được giải quyết tại toà án nước ngoài. Mỗi nước, trên cơ sở chủ quyền của mình, sẽ đơn phương xác định liệu toà án nước mình có sử dụng hay không và sử dụng như thế nào bản án/quyết định của toà án nước ngoài? Thông thường, các nước chỉ công nhận hiệu lực pháp luật của bản án/quyết định của toà án nước ngoài, nếu việc công nhận này là vì lợi ích tốt nhất của nước đó. Trường hợp của Trung Quốc là một ví dụ thú vị. Pháp luật Trung Quốc chính thức cho phép khả năng công nhận các bản án/quyết định của toà án nước ngoài, tuy nhiên, trên thực tế, các bản án/quyết định của toà án nước ngoài rất hiếm khi được toà án của Trung Quốc công nhận. Về vấn đề này có hai giả thuyết. Giả thuyết thứ nhất dựa trên lí thuyết ‘trò chơi’ trong luật quốc tế.  Mỗi một nước đều có mong muốn là các bản án/quyết định của toà án nước mình được càng nhiều nước công nhận càng tốt, vì việc được công nhận rộng rãi sẽ khuyến khích các bên tranh chấp lựa chọn nước đó để giải quyết tranh chấp và bảo đảm rằng bản án/quyết định mà toà án nước đó tuyên là có ý nghĩa và có hiệu lực thực thi trên thực tế. Đối với hệ thống pháp luật quốc tế, việc kí kết một điều ước đa phương về công nhận các bản án/quyết định của toà án nước ngoài sẽ là một giải pháp lí tưởng. Sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này sẽ giúp làm giảm thiểu các chi phí giải quyết tranh chấp tại toà án. Tuy nhiên, thực tế cho thấy là không có nước nào tỏ ra sốt sắng trong việc công nhận các bản án/quyết định của toà án nước ngoài. Việc các nước không nhiệt tình trong việc công nhận các bản án/quyết định của toà án nước ngoài được giải thích là để bảo vệ các bị đơn của nước sở tại, khuyến khích việc chuyển giao tài sản và vốn vào nước mình, tạo điều kiện để nhiều tranh chấp được giải quyết tại toà án nước mình và tăng thu nhập cho các nhóm lợi ích có ảnh hưởng. Là một chủ thể có chủ quyền, không nước nào có thể bị bắt buộc phải công nhận bản án/quyết định của toà án nước khác. Giả thuyết thứ hai lập luận rằng các nước ít nhất cũng nên công nhận một số bản án/quyết định của toà án nước ngoài, bởi vì điều này có lợi cho chính họ thông qua việc tiết kiệm chi phí và khuyến khích các nước khác có ứng xử tương tự. Việc công nhận bản án/quyết định của toà án nước ngoài sẽ giúp giảm thiểu chi phí tranh tụng cho các bên và giúp giảm thiểu tình trạng quá tải về số lượng các vụ kiện mà toà án sở tại phải giải quyết. Giả thuyết phù hợp nhất là: việc công nhận bản án/quyết định của toà án nước ngoài sẽ là một quá trình tố tụng đỡ tốn kém hơn việc bắt đầu một vụ kiện thứ hai. Hiệu lực của việc công nhận tại các nước khác là quan trọng nhưng chỉ đứng hàng thứ hai. Công nhận là một chiến lược bao trùm và hữu ích như các chiến lược giải quyết tranh chấp khác, thậm chí có thể hữu ích hơn các chiến lược khác, tuỳ thuộc vào việc các đối tác sẽ ứng xử như thế nào. Như vậy, ngay cả khi một nước khác không hợp tác, việc toà án nước này công nhận một vài bản án/quyết định của toà án nước khác cũng là một điều tốt. Không có giả thuyết nào chiếm ưu thế cho đến hiện nay. Các bằng chứng thực tế đều ủng hộ cả hai giả thuyết nêu trên.

3. Công nhận và thi hành các bản án/quyết định của toà án nước ngoài theo các điều ước quốc tế

Việc theo đuổi các điều ước về công nhận và thi hành các bản án/quyết định của toà án nước ngoài được một số nước cho là có kết quả. Tuy nhiên, có rất ít các điều ước như vậy được thực hiện. Ví dụ, Hoa Kỳ không kí kết bất kì điều ước nào như vậy,  và nhiều nỗ lực để kí kết các thoả thuận như vậy với Hoa Kỳ đã không thành công. Chỉ có rất ít nước tham gia vào rất ít những điều ước như vậy.  Cũng chỉ có rất ít các điều ước đa phương về công nhận bản án/quyết định của toà án nước ngoài. Đó là hai công ước của EU; Công ước liên Mỹ về quyền tài phán ở phạm vi quốc tế đối với hiệu lực trị ngoại lãnh thổ của bản án/quyết định của toà án nước ngoài; và ba công ước về thu hồi tiền trợ cấp nuôi con ở nước ngoài. Nỗ lực được nói đến gần đây của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế nhằm thông qua một công ước đa phương về công nhận lẫn nhau đối với các bản án/quyết định cũng đã thất bại. Tuy nhiên, cũng cần thiết phải đề cập đến một số nội dung của Công ước này để hiểu được những nỗ lực quốc tế trong vấn đề này.

>> Xem thêm:  Ví dụ về cách thâm nhập thị trường quốc tế của một sản phẩm cụ thể ? Phân tích cách thâm nhập đó.

4. Công ước La Hay về thoả thuận chọn toà án

Công ước này được coi là đối tác về giải quyết tranh chấp thông qua toà án với Công ước Niu Y-oóc, được ban hành vào ngày 30/6/2005. Hội nghị đã công bố báo cáo giải thích về Công ước này vào tháng 9/2007. Sẽ không bao giờ có thể đạt được một hiệp định đa phương toàn cầu, do có sự khác biệt về luật nội dung và luật tố tụng và văn hoá pháp lí giữa các nước. Khác với trọng tài thương mại, toà án được coi như là sự thể hiện chủ quyền quốc gia và các chính phủ rất khó có thể thoả hiệp, ngay cả khi các chính phủ có nhu cầu hợp tác nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

5.Công ước Brúc-xen và Công ước Lu-ga-nô

Hiện nay, có hai loại thủ tục về công nhận và thi hành bản án/quyết định của toà án nước ngoài, tùy thuộc vào việc bản án/quyết định được tuyên ở nước nào. Nếu bản án/quyết định được tuyên bởi toà án một nước thành viên EC/EFTA về dân sự hoặc thương mại, khi đó vấn đề này ở Anh sẽ hoàn toàn do Luật về quyền tài phán và bản án dân sự năm 1982 và năm 1991 điều chỉnh (‘CJJA’). Tuy nhiên, nếu phán quyết được tuyên ở nước không phải thành viên EC/EFTA, thì các quy định truyền thống sẽ được áp dụng. Vấn đề trở nên phức tạp hơn, khi có đến ba loại quy định truyền thống điều chỉnh vấn đề này. Loại quy định thứ nhất điều chỉnh việc công nhận bản án/quyết định của toà án các nước thành viên Khối thịnh vượng chung (‘Commonwealth’) trên cơ sở áp dụng Luật về quản lí tư pháp 1920 (The Administration of Justice Act 1920) (viết tắt là Luật AJA 1920). Loại quy định thứ hai áp dụng đối với bản án/quyết định của toà án các nước có thoả thuận áp dụng nguyên tắc có đi có lại với nước Anh trên cơ sở Luật về bản án của toà án nước ngoài (thi hành có đi có lại) 1933 (Foreign Judgments (Reciprocal Enforcement) Act 1933) (viết tắt là Luật FJA 1933). Và loại thủ tục thứ ba là các quy định common law áp dụng đối với bản án của toà án các nước còn lại.

 Việc công nhận và thi hành bản án/quyết định của toà án nước ngoài trong common law của nước Anh Trong lịch sử common law, các bản án/quyết định của toà án nước ngoài đã từng được công nhận và thi hành bởi các toà án ở Anh từ thế kỉ XVII. Việc này được bắt đầu trên cơ sở ‘xã giao’ (‘comity’). Tuy nhiên, học thuyết này đã được thay thế bằng ‘học thuyết về nghĩa vụ’ được phát triển trong án lệ Schibsby v. Westenholz 1870. Các điều kiện cần đáp ứng để một bản án/quyết định của toà án nước ngoài có thể được công nhận và thi hành: Trong common law, nếu bên thắng kiện muốn thi hành bản án/quyết định của toà án nước ngoài ở Anh, thì cần phải tiến hành một thủ tục pháp lí mới dựa trên nghĩa vụ mà bên thua kiện phải thực hiện theo bản án của toà án nước ngoài. Một giải pháp thay thế là bên thắng kiện có thể biện hộ trong bất kì vụ kiện nào về vấn đề tương tự dựa trên cơ sở bản án của toà án nước ngoài là ‘res judicata’ (‘vụ việc đã được giải quyết xong tại toà án’). Nếu một đơn kiện lần đầu được đệ trình tại toà án Anh, thì bên nguyên đơn có thể yêu cầu toà án thực hiện thủ tục xét xử rút gọn theo quy tắc tố tụng dân sự, chừng nào mà bị đơn không đưa ra các lập luận biện hộ, như đã được xác định trong án lệ Grant v. Easton 1883, với điều kiện là đơn kiện nộp tại toà án Anh đã tuân thủ các quy định về quyền tài phán, và thủ tục tống đạt lệnh hầu toà đã được thực hiện với bị đơn ở nước ngoài. Điều kiện quan trọng nhất để một bản án của toà án nước ngoài được công nhận và thi hành ở Anh, cho dù là theo common law hay theo Luật AJA 1920 và Luật FJA 1933 - đó là: ‘toà án nước ngoài đã tuyên bản án đó phải có quyền tài phán theo nghĩa quốc tế để giải quyết vụ kiện đó. Nói cách khác, toà án Anh sẽ không công nhận hiệu lực của bản án của toà án nước ngoài, nếu toà án nước ngoài không có quyền tài phán phù hợp với quy phạm xung đột theo luật của Anh’

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)