Thu hồi đất là một nội dung quan trọng trong quản lý, sử dụng đất đai, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và lợi ích công cộng. Trong thực tế, không phải mọi trường hợp thu hồi đất đều nhận được sự đồng thuận ngay từ người sử dụng đất. Khi người có đất bị thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi theo quy định, Nhà nước buộc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất nhằm bảo đảm kỷ cương pháp luật và hiệu lực quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cưỡng chế không phải là biện pháp tùy tiện mà là giải pháp cuối cùng, chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ do pháp luật quy định. Việc hiểu rõ 04 điều kiện để Nhà nước tiến hành cưỡng chế thu hồi đất không chỉ giúp người dân nâng cao nhận thức pháp luật, mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình thu hồi đất.

1. Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

Căn cứ khoản 1 điều 89 Luật đất đai 2024, việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc sau đây: 

- Bảo đảm quá trình cưỡng chế được tiến hành công khai, minh bạch, dân chủ và khách quan, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; đồng thời giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan;

- Thời điểm bắt đầu cưỡng chế chỉ được thực hiện trong giờ hành chính; không tổ chức cưỡng chế trong khoảng thời gian từ 22 giờ đêm ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, cũng như vào ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật, ngày lễ truyền thống của đồng bào dân tộc; không thực hiện trong 15 ngày trước và 15 ngày sau Tết Âm lịch, và các trường hợp đặc biệt khác có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương;

- Việc cưỡng chế được thực hiện đối với người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, cũng như các tổ chức, cá nhân và đối tượng khác có liên quan đến khu đất bị thu hồi (nếu có), bảo đảm đúng đối tượng và phạm vi theo quyết định thu hồi đất đã được ban hành

Như vậy, việc quy định đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và nhân văn của quá trình thu hồi đất, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện, đồng thời bảo đảm sự hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và các chủ thể có liên quan, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.

2. 04 điều kiện để Nhà nước tiến hành cưỡng chế thu hồi đất

Theo khoản 2 Điều 89 Luật Đất đai năm 2024, việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất chỉ được Nhà nước tổ chức thực hiện trong những trường hợp thật sự cần thiết và khi đã đáp ứng đầy đủ, chặt chẽ các điều kiện do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch trong quá trình thu hồi đất, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất cũng như các chủ thể có liên quan; cụ thể, việc cưỡng chế được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành mà người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và cơ quan có chức năng quản lý đất đai hoặc đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã vận động, thuyết phục;
- Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;
- Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;
- Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành. 
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.
Như vậy, Nhà nước chỉ tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất khi đồng thời đáp ứng đầy đủ cả bốn điều kiện nêu trên, thể hiện rõ nguyên tắc cưỡng chế chỉ là biện pháp cuối cùng được áp dụng sau khi đã tiến hành đầy đủ các bước vận động, thuyết phục, bảo đảm quyết định thu hồi đất và quyết định cưỡng chế đều có hiệu lực pháp luật, được công khai, minh bạch và được giao hợp lệ cho người bị thu hồi đất, qua đó không chỉ bảo đảm tính hợp pháp, chặt chẽ về trình tự, thủ tục hành chính mà còn góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, hạn chế tối đa phát sinh tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện, đồng thời giữ vững trật tự, an toàn xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.

 3. Thẩm quyền thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

Theo Điểm d Khoản 2 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể chuyển giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong một số trường hợp nhất định nhằm đảm bảo tính linh hoạt và kịp thời trong việc quản lý, thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến đất đai. Trong đó, khoản 2 quy định cụ thể rằng Chủ tịch UBND cấp xã được thực hiện các thẩm quyền do Chủ tịch UBND cấp huyện chuyển giao theo Luật Đất đai, bao gồm những nội dung quan trọng liên quan đến cưỡng chế thu hồi đất.

Cụ thể, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất, tương ứng với quy định tại khoản 3 Điều 89 Luật Đất đai, đồng thời ban hành quyết định thành lập Ban cưỡng chế thu hồi đất theo điểm a khoản 4 Điều 89 Luật Đất đai. Điều này thể hiện việc Nhà nước phân công rõ ràng trách nhiệm, bảo đảm rằng việc tổ chức cưỡng chế được tiến hành kịp thời, đúng trình tự pháp luật, ngay cả ở cấp xã, nơi trực tiếp quản lý địa bàn đất đai và người dân liên quan.

Thời hạn thi hành quyết định cưỡng chế cũng được quy định cụ thể: trong vòng 10 ngày kể từ ngày người bị cưỡng chế nhận quyết định hoặc kể từ ngày UBND cấp xã lập biên bản về việc người bị cưỡng chế vắng mặt hoặc từ chối nhận quyết định, trừ trường hợp quyết định cưỡng chế có quy định thời gian dài hơn. Quy định này vừa bảo đảm tính cấp bách, vừa hạn chế kéo dài, giúp quá trình cưỡng chế được thực hiện kịp thời, tránh tình trạng trì hoãn, đồng thời vẫn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân trong quá trình thi hành quyết định thu hồi đất.

Như vậy, việc chuyển giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai mà còn góp phần đảm bảo quá trình cưỡng chế được thực hiện công khai, minh bạch, đúng trình tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan và giữ vững trật tự, an ninh tại địa phương.

4. Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

Căn cứ khoản 4 Điều 89 Luật đất đai 2024, Điểm d Khoản 2 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP thì việc thực hiện quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất thực hiện theo các trình tự, thủ tục sau đây: 

Bước 1: Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã quyết định Thành lập Ban cưỡng chế thu hồi đất

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập Ban cưỡng chế thu hồi đất để chuẩn bị cho quá trình cưỡng chế. Ban này do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã làm trưởng ban và gồm các thành viên là đại diện các cơ quan có chức năng thanh tra, tư pháp, tài nguyên và môi trường, xây dựng; các đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đại diện lãnh đạo UBND cấp xã nơi có đất thu hồi và các thành viên khác do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định, nhằm bảo đảm quá trình cưỡng chế được tổ chức bài bản, minh bạch và đúng quy định pháp luật.

Bước 2: Ban cưỡng chế tiến hành vận động, thuyết phục và đối thoại người bị cưỡng chế

Ban cưỡng chế tiến hành vận động, thuyết phục và đối thoại với người bị cưỡng chế để tạo sự đồng thuận trong việc bàn giao đất. Nếu người bị cưỡng chế chấp hành, Ban lập biên bản ghi nhận sự chấp hành và thực hiện bàn giao đất chậm nhất 30 ngày kể từ ngày lập biên bản. Trong trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành, Ban tổ chức thực hiện cưỡng chế theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.

Bước 3: Ban cưỡng chế thực hiện cưỡng chế

Trong quá trình cưỡng chế, Ban cưỡng chế có quyền yêu cầu người bị cưỡng chế cùng những người có liên quan ra khỏi khu đất và tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất. Nếu họ không thực hiện, Ban có trách nhiệm trực tiếp di chuyển người và tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế. Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản, Ban phải lập biên bản, tổ chức bảo quản tài sản theo quy định pháp luật và thông báo để người có tài sản nhận lại.

Bước 4: Mời Ủy ban mặt trận tổ quốc tham gia giám sát quá trình cưỡng chế

Để bảo đảm tính công khai, minh bạch và hợp pháp, Ban cưỡng chế mời đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã tham gia giám sát toàn bộ quá trình cưỡng chế, đồng thời giám sát việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, nhằm bảo đảm cưỡng chế được tiến hành đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và giữ vững trật tự, an toàn tại địa phương.

Kết luận 

Quy định về 04 điều kiện cưỡng chế thu hồi đất thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước trong việc hài hòa giữa yêu cầu quản lý đất đai thống nhất, hiệu quả với việc tôn trọng, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất. Chỉ khi đã thực hiện đầy đủ các bước theo trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm công khai, minh bạch, đối thoại và giải quyết quyền lợi hợp pháp cho người bị thu hồi đất, Nhà nước mới tiến hành cưỡng chế như một biện pháp bắt buộc cuối cùng. Do đó, việc nắm vững các điều kiện này không chỉ giúp cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật đúng đắn, mà còn giúp người dân chủ động hợp tác, hạn chế khiếu nại, tranh chấp, góp phần xây dựng môi trường pháp lý ổn định và xã hội phát triển bền vững.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.