1. Số ngày nghỉ ốm tối đa của người lao động trong một năm

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về thời gian hưởng chế độ ốm đau như sau:

- Người lao động làm việc trong điều kiện bình thường: 30 ngày/năm với trường hợp đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày/năm với trường hợp đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm đến dưới 30 năm; 60 ngày/năm với trường hợp đóng bảo hiểm xã hội từ 30 năm trở lên. (Không tính ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần)

- Người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên: 40 ngày/năm với trường hợp đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 50 ngày/năm với trường hợp đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày/năm với trường hợp đóng bảo hiểm xã hội từ 30 năm trở lên. (Không tính ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần)

- Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày: Tối đa 180 ngày/năm (bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần). Sau khi hết thời hạn 180 ngày mà vẫn cần tiếp tục điều trị, được hưởng chế độ ốm đau với thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

Lưu ý: Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với nhóm đối tượng như: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân sẽ căn cứ vào thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

Ngoài ra, theo quy định của Điều 29 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, sau khi hết thời gian nghỉ ốm đau trong một năm, người lao động có thể tiếp tục nghỉ dưỡng sức để phục hồi sức khỏe. Trong vòng 30 ngày đầu trở lại làm việc sau khi hết thời gian nghỉ ốm đau, nếu sức khỏe chưa hoàn toàn phục hồi, họ được phép nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 đến 10 ngày/năm, tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 của Điều này: Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quyết định bởi người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không có công đoàn cơ sở, quyết định này sẽ do người sử dụng lao động đưa ra. Đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày, số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tối đa là 10 ngày. Đối với người lao động phải phẫu thuật, số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tối đa là 07 ngày. Đối với các trường hợp khác, số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 05 ngày. Tóm lại, sau khi hết thời gian nghỉ ốm đau, người lao động không chỉ được nghỉ phục hồi sức khỏe mà còn được nghỉ thêm từ 05 đến 10 ngày tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của họ trong 30 ngày đầu trở lại làm việc.

2. Quy định về mức hưởng lương của người lao động khi nghỉ ốm đau

Căn cứ theo quy định tại Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, các điều khoản sau được quy định về mức hưởng chế độ ốm đau bao gồm:

- Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 26 và Điểm a, Khoản 2 của Điều 27 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014: Mức hưởng được tính bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Trong trường hợp người lao động mới bắt đầu làm việc hoặc người lao động trước đó đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội, sau đó bị gián đoạn thời gian làm việc mà phải nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau ngay trong tháng đầu tiên trở lại làm việc, mức hưởng là 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng đó. Điều này nhằm đảm bảo rằng người lao động không bị thiệt thòi khi phải nghỉ việc do ốm đau ngay sau khi bắt đầu làm việc hoặc trở lại làm việc sau một thời gian gián đoạn.

- Người lao động hưởng tiếp chế độ ốm đau quy định tại Điểm b, Khoản 2 của Điều 26 của Luật này: Mức hưởng được quy định như sau: 65% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên; 55% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 50% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm. Điều này nhằm tạo ra sự công bằng trong việc xác định mức đền bù cho người lao động dựa trên thâm niên đóng bảo hiểm xã hội của họ.

- Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Khoản 3 của Điều 26 của Luật này: Mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Điều này có nghĩa là người lao động sẽ được nhận mức đền bù bằng toàn bộ mức tiền lương mà họ đã đóng bảo hiểm xã hội trong tháng trước khi phải nghỉ việc vì ốm đau. Đây là một chính sách hỗ trợ tài chính quan trọng nhằm bảo vệ thu nhập cho người lao động trong thời gian họ không thể làm việc do lý do sức khỏe.

- Mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày: Cụ thể, mức trợ cấp ốm đau được tính dựa trên mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc, theo các quy định của pháp luật hoặc các chính sách của tổ chức bảo hiểm xã hội. Sau đó, mức này được chia cho số ngày trong tháng, thường là 24 ngày, để xác định mức trợ cấp ốm đau mỗi ngày. Ngoài ra, trong thời gian người lao động được nghỉ khi sức khoẻ chưa hồi phục thì người lao động sẽ được hỗ trợ mỗi ngày bằng 30% mức lương cơ sở. Điều này nhằm mục đích đảm bảo rằng người lao động vẫn nhận được một khoản thu nhập nhất định để giúp chi trả các chi phí cần thiết trong thời gian họ không thể làm việc do sức khỏe yếu đuối.

3. Người lao động có được trả lương đầy đủ khi nghỉ ốm đau không?

Theo Điều 4 Khoản 1 của Luật Bảo hiểm Xã hội 2014, có quy định về các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, và tử tuất. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ được hưởng chế độ ốm đau, giúp bù đắp thu nhập khi họ nghỉ việc vì ốm đau. Điều này giúp bảo vệ thu nhập của họ trong thời gian nghỉ việc và giảm bớt gánh nặng tài chính khi gặp phải tình trạng không tốt của sức khỏe. Chế độ ốm đau trong bảo hiểm xã hội có thể bao gồm trả một phần thu nhập thay vì thu nhập đầy đủ trong thời gian nghỉ việc, nhằm bù đắp cho sự mất mát thu nhập do ốm đau gây ra. Điều này giúp người lao động có thể tạm thời nghỉ việc để điều trị và phục hồi sức khỏe mà không lo lắng về tài chính quá nhiều.

Theo Điều 168 Khoản 2 của Bộ luật Lao động năm 2019, trong thời gian người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động không cần phải trả lương cho họ, trừ khi có thỏa thuận khác giữa hai bên. Điều này là do chế độ bảo hiểm xã hội thường bao gồm các khoản đền bù cho người lao động trong thời gian họ nghỉ việc vì lý do sức khỏe, nhằm bảo vệ thu nhập của họ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể có các quy định cụ thể trong hợp đồng lao động hoặc quy định pháp lý địa phương mà người sử dụng lao động và người lao động đã thỏa thuận trước đó, trong đó có việc trả lương cho thời gian nghỉ việc do ốm đau.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Giấy nghỉ ốm hưởng BHXH tối đa bao nhiêu ngày theo quy định?.

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!