Nhưng trong khoảng thời gian xin nghỉ ốm này (ví dụ nghỉ ốm từ 25/4 đến 15/5) lại trùng với 2 ngày nghỉ lễ là 30/4 và 1/5. Vậy cho mình hỏi là 2 ngày này sẽ tính vào công ốm do bảo hiểm chi trả hay là tính công lễ ?

Xin cảm ơn.

 

Luật sư trả lời:

Đối với trường hợp nghỉ ốm đau ngắn ngày thời gian nghỉ theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 như sau:

Điều 26. Thời gian hưởng chế độ ốm đau

1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và h khoản 1 Điều 2 của Luật này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:

a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên;

b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.

Thời gian nghỉ ốm đau không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hằng tuần; vì vậy ngày 30/4 và 1/5 vẫn được tính là ngày nghỉ lễ, tết- nghỉ có hưởng lương, theo quy định của Bộ luật lao động:

Điều 115. Nghỉ lễ, tết

1. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:

a) Tết Dương lịch 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);

b) Tết Âm lịch 05 ngày;

c) Ngày Chiến thắng 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);

d) Ngày Quốc tế lao động 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);

Đối với trường hợp nghỉ dài ngày:

Điều 26. Thời gian hưởng chế độ ốm đau

2. Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

a) Tối đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

Trường hợp này, nghỉ ốm đau và nghỉ lễ, nghỉ tết là trùng nhau, cho nên nếu nghỉ ốm đau vào thời gian nghỉ lễ thì người lao động vẫn được thanh toán chế độ ốm đau, đồng thời vẫn được nghỉ hưởng nguyên lương ngày lễ.

Tiền lương ngày nghỉ lễ là do người sử dụng lao động chi trả, còn tiền ốm đau là do cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả.

 

2. Điểm mới về chế độ nghỉ phép năm 

- NLĐ làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

+ 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

+ 14 ngày làm việc đối với NLĐ chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

+ 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (hiện hành quy định này áp dụng với cả đối tượng NLĐ làm việc tại nơi có có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt).

- NLĐ làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.

- Cứ đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của NLĐ được tăng thêm tương ứng 01 ngày.

- Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

- NLĐ có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

- Khi nghỉ hằng năm, nếu NLĐ đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.

 

3. Quy định về nghỉ việc riêng

NLĐ được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong các trường hợp sau đây:

(1) Bản thân NLĐ kết hôn: Nghỉ 03 ngày.

(2) Cha đẻ chết: Nghỉ 03 ngày.

(3) Mẹ đẻ chết: Nghỉ 03 ngày.

(4) Cha nuôi chết (quy định mới): Nghỉ 03 ngày.

(5) Mẹ nuôi chết (quy định mới): Nghỉ 03 ngày.

(6) Cha đẻ của vợ/chồng chết: Nghỉ 03 ngày.

(7) Mẹ đẻ của vợ/chồng chết: Nghỉ 03 ngày.

(8) Cha nuôi của vợ/chồng chết (quy định mới): Nghỉ 03 ngày.

(9) Mẹ nuôi của vợ/chồng chết (quy định mới): Nghỉ 03 ngày.

(10) Vợ/chồng của NLĐ chết: Nghỉ 03 ngày.

(11) Con đẻ chết: Nghỉ 03 ngày.

(12) Con nuôi chết: Nghỉ 03 ngày.

(13) Con đẻ kết hôn: Nghỉ 01 ngày.

(14) Con nuôi kết hôn: Nghỉ 01 ngày.

Lưu ý: Khi nghỉ việc riêng trong các trường hợp trên đây, NLĐ có nghĩa vụ phải thông báo cho người sử dụng lao động biết.

>> ​Tư vấn chế độ nghỉ phép hàng năm của người lao động, gọi ngay số: 1900.6162

 

4. Quy định về tiền lương thưởng, nghỉ Lễ, Tết

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam quy định rất rõ, ban hành chi tiết về những ngày nghỉ lễ, Tết của từng năm, từng dịp lễ.

Ví dụ: Nghỉ lễ 30/4 và 1/5/2017, Chính phủ đã ban hành quy định về số ngày nghỉ lễ, cụ thể:

Người lao động làm việc tại cơ sở có chế độ nghỉ 01 ngày/tuần:

- Nếu nghỉ vào ngày Chủ nhật hằng tuần: Được nghỉ 03 ngày liên tục từ ngày 30/4 đến hết ngày 02/5/2017 (Trong đó, ngày 02/5 là ngày nghỉ bù cho ngày 30/4 - Chủ nhật).

- Nếu được nghỉ 01 ngày bất kì trong tuần: Được nghỉ 02 ngày liên tục 30/4 và 0/05/2017. Trong trường hợp ngày nghỉ bất kì trùng vào ngày 30/4 hoặc 01/5/2017 thì được nghỉ bù thêm vào ngày 02/5/2017.

- Không đi làm làm ngày lễ: Người không đi làm vào ngày lễ sẽ được hưởng 100% lương của ngày làm việc bình thường.

- Đi làm vào ngày lễ như ngày làm việc bình thường: Người lao động sẽ được trả tiền lương làm thêm giờ ở mức 300% tiền lương ngày – Tức hưởng đến 4 ngày lương cho 1 ngày làm việc (cộng cả 100% lương của ngày làm việc bình thường).

- Làm thêm vào ban đêm ngày lễ: Người lao động sẽ được trả thêm 90% tiền lương ngày .

Bên cạnh tiền lương làm thêm giờ thì một số doanh nghiệp có chi trả thêm tiền thưởng cho Người lao động. Tuy nhiên, chế độ thưởng này pháp luật không bắt buộc thực hiện, mà sẽ tuân theo quy định của doanh nghiệp hoặc hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể.

 

5. Cách tính ngày nghỉ phép năm trong một số trường hợp đặc biệt

Tại Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, quy định cách tính ngày nghỉ phép năm trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

- Số ngày nghỉ hằng năm của người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật Lao động được tính như sau: lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm.

- Trường hợp người lao động làm việc chưa đủ tháng, nếu tổng số ngày làm việc và ngày nghỉ có hưởng lương của người lao động (nghỉ lễ, tết, nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng có hưởng lương theo Điều 112, Điều 113, Điều 114 và Điều 115 của Bộ luật Lao độnghiện hành chiếm tỷ lệ từ 50% số ngày làm việc bình thường trong tháng theo thỏa thuận thì tháng đó được tính là 01 tháng làm việc để tính ngày nghỉ hằng năm.

(Nội dung mới bổ sung)

- Toàn bộ thời gian người lao động làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực nhà nước và doanh nghiệp nhà nước được tính là thời gian làm việc để tính ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo quy định tại Điều 114 của Bộ luật Lao động hiện hành nếu người lao động tiếp tục làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.

 

6. Tiền tàu xe, tiền lương trong thời gian đi đường, tiền lương ngày nghỉ phép năm

Điều 67 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, tiền tàu xe, tiền lương trong thời gian đi đường, tiền lương ngày nghỉ hằng năm được quy định như sau:

- Tiền tàu xe, tiền lương những ngày đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm theo khoản 6 Điều 113 của Bộ luật Lao động hiện hành do hai bên thỏa thuận.

- Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động những nghỉ hằng năm là tiền lương theo hợp đồng lao động tại thời điểm người lao động nghỉ phép năm.

(Hiện hành, khoản 2 Điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong ngày nghỉ hằng năm tại Điều 111; ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc tại Điều 112;... là tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề, chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của người sử dụng lao động, nhân với số ngày người lao động nghỉ hằng năm, nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc).

- Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm theo khoản 3 Điều 113 của Bộ luật Lao động hiện hành là tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề tháng người lao động thôi việc, bị mất việc làm.

(Hiện hành, tại khoản 3 Điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP, tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm tại Điều 114 của Bộ luật Lao động hiện hành được quy định như sau:

+ Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm. Đối với người lao động chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm vì các lý do khác là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm;

+ Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc).

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.