1. Theo quy định mới nhất 16, 17, 18 tuổi có được đăng ký kết hôn hay không? 

Kết hôn được hiểu là việc nam và nữ thiết lập một quan hệ vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, bao gồm việc đăng ký kết hôn và tuân thủ các điều kiện kết hôn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rằng khi các bên nam và nữ đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định, họ phải đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền. Việc kết hôn tại cơ quan nhà nước này chính thức công nhận quan hệ hợp pháp giữa các bên nam và nữ.

Theo Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thành niên được hiểu là người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Người đủ 18 tuổi được coi là người có đủ nhận thức, có khả năng tự chịu trách nhiệm với các quyết định của mình, và đã hoàn thiện về mặt tâm sinh lý. Những người này cũng có khả năng tự chăm sóc và nuôi dưỡng bản thân, con cái và gia đình. Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa thành niên được hiểu là người chưa đủ mười tám tuổi. Cụ thể:

- Người chưa đủ sáu tuổi khi thực hiện các giao dịch dân sự phải có người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập và thực hiện.

- Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ các giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi khi xác lập và thực hiện giao dịch dân sự.

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập và thực hiện giao dịch dân sự. Tuy nhiên, các giao dịch dân sự liên quan đến động sản, bất động sản theo quy định pháp luật, và các giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

Các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Các điều kiện này được quy định như sau:

- Nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên.

- Cả nam và nữ phải tự nguyện quyết định kết hôn.

- Cả nam và nữ không được mất năng lực hành vi dân sự.

- Việc kết hôn không nằm trong các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại Điều 5, khoản 2 của Luật Hôn nhân và gia đình. Các hành vi cấm bao gồm:

+ Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo.

+ Cưỡng ép kết hôn, tảo hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn.

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng, những người có họ trong phạm vi ba đời, và giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.

+ Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Từ những điều kiện trên, để được phép đăng ký kết hôn, nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên. Những người ở độ tuổi 16, 17 và 18 chưa đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật. Trong trường hợp không đáp ứng các điều kiện trên, việc kết hôn sẽ là trái pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định. Đối với những người ở độ tuổi 16, 17 và 18, theo quy định pháp luật, họ chưa đủ điều kiện để đăng ký kết hôn. Chỉ khi nữ đủ 18 tuổi, và các điều kiện khác được đáp ứng theo luật định, thì việc đăng ký kết hôn là hợp pháp. Còn những trường hợp không đáp ứng đủ tuổi đăng ký kết hôn đối với nam và nữ sẽ được gọi là tảo hôn. Do đó, dựa trên quy định trên, việc đăng ký kết hôn ở tuổi 16, 17 và 18 (chưa đủ 18 tuổi) không được pháp luật quy định. Ở những lứa tuổi này, khi thực hiện và xác lập các giao dịch dân sự, năng lực hành vi dân sự của những người này chưa đầy đủ. Những người có độ tuổi 16, 17 và 18 chưa có khả năng tự chịu trách nhiệm với các quyết định của mình và chưa đủ sự hoàn thiện về mặt tâm sinh lý. Trong nhiều trường hợp, họ chưa thể tự chăm sóc và nuôi dưỡng bản thân, con cái và gia đình.

 

2. Chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn có vi phạm pháp luật?

Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Cụ thể, tảo hôn là hành vi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Nam lấy vợ khi chưa đủ 20 tuổi.

- Nữ lấy chồng khi chưa đủ 18 tuổi.

- Nam chưa đủ 20 tuổi và nữ chưa đủ 18 tuổi.

Hành vi tảo hôn hoặc tổ chức tảo hôn sẽ bị xử phạt hành chính, và trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

- Xử lý hành chính: Theo Điều 58 của Nghị định 82/2020/NĐ-CP, hành vi tảo hôn hoặc tổ chức tảo hôn sẽ bị xử phạt hành chính như sau:

+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

+ Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn, mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

- Xử lý hình sự: Người có hành vi tổ chức tảo hôn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức tảo hôn được quy định tại Điều 183 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017, cụ thể:

Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà vẫn vi phạm, sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm. Điều này nhằm đảm bảo tuân thủ quy định về tuổi kết hôn và bảo vệ quyền lợi của những người chưa đủ tuổi để thực hiện hôn nhân theo quy định của pháp luật.

 

3. Cách tính tuổi kết hôn

Theo quy định tại Điều 2 của Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, việc xác định đủ 20 tuổi trở lên và đủ 18 tuổi trở lên được thực hiện như sau:

- Đối với nam, để được xác định đủ 20 tuổi trở lên, nam phải đã đủ 20 tuổi tính từ ngày, tháng, năm sinh của mình.

- Đối với nữ, để được xác định đủ 18 tuổi trở lên, nữ phải đã đủ 18 tuổi tính từ ngày, tháng, năm sinh của mình.

Trong trường hợp không xác định được ngày sinh hoặc tháng sinh của hai bên, quy định như sau:

- Nếu chỉ xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh, thì tháng sinh được coi là tháng 01 của năm sinh đó.

- Nếu không xác định được cả ngày sinh và tháng sinh, nhưng xác định được năm sinh và tháng sinh, thì ngày sinh được coi là ngày mùng 01 của tháng sinh đó.

Để xác định đủ 20 tuổi trở lên, nam phải đã đủ 20 tuổi tính từ ngày, tháng, năm sinh của mình, trong khi đó, để xác định đủ 18 tuổi trở lên, nữ phải đã đủ 18 tuổi tính từ ngày, tháng, năm sinh của mình. Trong trường hợp không xác định được ngày sinh hoặc tháng sinh, quy định rõ ràng rằng tháng sinh được coi là tháng 01 của năm sinh đối với nam, và ngày sinh được coi là ngày mùng 01 của tháng sinh đối với nữ. Quy định này giúp xác định độ tuổi của nam và nữ dựa trên thông tin có sẵn và đảm bảo tính chính xác trong việc xác định tuổi khi thiếu thông tin cụ thể.

Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê: Tư vấn thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam ?

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!