- 1. Công ty có 2 người đại diện theo pháp luật thì ký hợp đồng lao động với ai?
- 2. Ký hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền thì dẫn đến hậu quả gì?
- 3. Trách nhiệm khi là người đại diện theo pháp luật
- 4. Xử lý khi người đại diện theo pháp luật của công ty vắng mặt hơn 1 tháng không ủy quyền cho người khác
1. Công ty có 2 người đại diện theo pháp luật thì ký hợp đồng lao động với ai?
Theo khoản 2 Điều 12 của Luật Doanh nghiệp 2020, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp liên quan đến giao dịch, giải quyết các vấn đề dân sự, và đại diện trước Trọng tài, Tòa án cũng như các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Điều này đặt ra vấn đề quan trọng khi xác định thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động.
Trong trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, Luật Doanh nghiệp cho phép có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Quy định này cụ thể được thể hiện trong Điều lệ công ty về số lượng, chức danh quản lý, và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Nếu Điều lệ công ty quy định nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật, thì nó sẽ cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện. Trong trường hợp không có sự rõ ràng về phân chia quyền, nghĩa vụ trong Điều lệ công ty, tất cả người đại diện theo pháp luật đều được coi là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba. Đồng thời, tất cả các người đại diện này phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp, tuân theo quy định của pháp luật về dân sự và các quy định khác có liên quan.
Do đó, để xác định thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động trong trường hợp này, cần tham khảo và tuân theo những quy định cụ thể về người đại diện theo pháp luật trong Điều lệ công ty. Điều này sẽ giúp đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của quyết định ký kết hợp đồng lao động.
2. Ký hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền thì dẫn đến hậu quả gì?
Khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động 2019 rõ ràng quy định về các trường hợp hợp đồng lao động trở nên vô hiệu toàn bộ. Theo đó, nếu hợp đồng lao động vi phạm pháp luật, được ký bởi người không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng, hoặc nếu công việc được giao kết trong hợp đồng là công việc bị cấm bởi pháp luật, thì hợp đồng đó sẽ bị coi là vô hiệu toàn bộ.
Trong trường hợp người ký hợp đồng không đúng thẩm quyền, cả Mục 1 và Mục 2 của Điều 49 nêu trên đều chỉ ra rằng hợp đồng lao động sẽ trở nên vô hiệu toàn bộ. Quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thuộc về Tòa án nhân dân, theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Lao động 2019.
Khi một hợp đồng lao động đã được tuyên bố vô hiệu toàn bộ, cả người lao động và công ty đều có trách nhiệm ký lại hợp đồng mới theo đúng quy định của pháp luật, như được quy định tại khoản 1 Điều 10 của Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc tái ký hợp đồng để đảm bảo rằng mọi quan hệ lao động được thiết lập và duy trì theo các quy định pháp luật hiện hành.
Như vậy, nếu hợp đồng lao động ký không đúng thẩm quyền sẽ trở thành hợp đồng vô hiệu
3. Trách nhiệm khi là người đại diện theo pháp luật
Về trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2020 đã đặt ra những quy định cụ thể tại Điều 13. Người đại diện theo pháp luật có nhiệm vụ và trách nhiệm sau đây để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp diễn ra một cách công bằng và hợp pháp:
Thứ nhất, họ phải thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi sự chăm sóc và tập trung để đảm bảo mọi quyết định và hành động của họ đều hướng tới việc thúc đẩy phát triển và bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp.
Thứ hai, người đại diện theo pháp luật cần phải trung thành với lợi ích của doanh nghiệp. Họ không được lạm dụng địa vị, chức vụ và không được sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Thứ ba, họ có trách nhiệm thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về bất kỳ liên quan nào với doanh nghiệp mà họ, hoặc người có liên quan của họ, làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp, theo quy định của Luật Doanh nghiệp
Quan trọng hơn, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với mọi thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp nếu họ vi phạm trách nhiệm được quy định tại khoản 1 của Điều 13 này. Điều này đặt ra một tiêu chuẩn cao về trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp đối với người đại diện, khẳng định sự quan trọng của tính minh bạch, tôn trọng lợi ích cộng đồng và tuân thủ pháp luật trong quản lý doanh nghiệp.
4. Xử lý khi người đại diện theo pháp luật của công ty vắng mặt hơn 1 tháng không ủy quyền cho người khác
Theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020, nếu người đại diện của doanh nghiệp chỉ còn một người và anh ta vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện, hoặc trong trường hợp anh ta chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị có quyền cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.
Theo khoản 1 Điều 51 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, vi phạm những điều khoản trên sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Cụ thể, các hành vi vi phạm bao gồm:
Không có người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam.
Không ủy quyền bằng văn bản cho người khác làm đại diện hoặc ủy quyền bằng văn bản đã hết hạn nhưng không gia hạn khi người đại diện theo pháp luật duy nhất của doanh nghiệp xuất cảnh khỏi Việt Nam.
Người đại diện theo ủy quyền không đủ tiêu chuẩn theo quy định.
Ủy quyền vượt quá số lượng người được ủy quyền tối đa theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, để khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm, Nghị định 122/2021/NĐ-CP cũng đưa ra các biện pháp như buộc đăng ký người đang cư trú tại Việt Nam làm người đại diện của doanh nghiệp, buộc ủy quyền cho người khác làm đại diện, và buộc thay đổi người đại diện đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định
Cũng theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định mức phạt tiền hành vi người đại diện vắng mặt tại Việt Nam hơn 1 tháng mà không ủy quyền cho người khác như sau: "2. Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với tổ chức (trừ mức phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 28; điểm a và điểm b khoản 2 Điều 38; Điều 62 và Điều 63 Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân). Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 (một phần hai) mức phạt tiền đối với tổ chức."
Như vậy, nếu có hành vi vắng mặt người đại diện theo pháp luật của công ty mà không ủy quyền thì có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Bên cạnh đó, đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 (một phần hai) mức phạt tiền đối với tổ chức.
Bài viết liên quan: Ai là người ký hợp đồng lao động với giám đốc công ty?
Nội dung trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách!