1. Ai chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công trình, nhà ở gây ra?

Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.

Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường."

Khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại, người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng. Bộ luật dân sự năm 2015 không xác định thứ tự chịu trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản. Điều đó dẫn đến khó khăn trong việc xác định chủ thể sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có thiệt hại xảy ra (ví dụ, khi chủ sở hữu đã chuyển giao cho người khác quản lý, sử dụng rồi thì có phải bồi thường nếu có thiệt hại không?). Do đó, cần phải xác định thứ tự chịu trách nhiệm bồi thường và phải phân định được trách nhiệm của các chủ thể khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại. Theo quan điểm của nhiều tác giả, việc xác định người phải bồi thường thiệt hại là chủ sở hữu hay người chiếm hữu, người được giao quản lý, người sử dụng sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể như sau:

Thứ nhất, trong trường hợp nhà cửa, công trình khác gây thiệt hại mà có lỗi của người quản lý, thì phải xem xét trong thời gian đó chủ thể nào có nghĩa vụ quản lý (nghĩa vụ kiểm tra tình trạng, khắc phục hư hỏng,...). Nếu chủ sở hữu là người trực tiếp quản lý, sử dụng thì chủ sở hữu phải bồi thường. Nếu do người khác chiếm hữu, sử dụng và do họ đã không thực hiện tốt nghĩa vụ quản lý thì họ phải bồi thường thiệt hại.

Thứ hai, trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại mà không có sự vi phạm trong quản lý (tức là không chủ thể nào bị coi là có lỗi), thì việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phụ thuộc vào việc ai là người được thực hiện các quyền khai thác công dụng hoặc hưởng lợi các lợi ích phát sinh từ nhà cửa, công trình xây dựng khác tại thời điểm nó gây thiệt hại. Theo đó, nếu chủ sở hữu là người đang thực hiện các quyền đối với tài sản hoặc đang được hưởng các lợi ích từ tài sản đó thì chủ sở hữu phải bồi thường, kể cả tại thời điểm đó nhà cửa, công trình xây dựng đang do người khác trực tiếp quản lý. Ví dụ, cả nhà đi xem phim và có nhờ người khác sang trông nhà hộ, nếu nhà gây thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường. Nếu chủ sở hữu đã chuyển giao quyền khai thác công dụng hoặc hưởng các lợi ích từ nhà cửa, công trình xây dựng khác cho chủ thể khác (người thuê, người mượn,...) thì khi nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại, người được chuyển giao sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ngoài các chủ thể trên, người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại có thể là người thi công. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công là quy định hoàn toàn mới trong Bộ luật dân sự năm 2015. Có thể thấy rằng, trước khi quy định này được bổ sung, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong nhiều trường hợp thuộc về người thi công hay chủ sở hữu cũng như các chủ thể có liên quan vẫn là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Theo quy định tại Điều 627 Bộ luật dân sự trước đây, người thi công hoàn toàn không được nhắc đến khi xác định các chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại. Điều này dẫn đến thực tế đó là khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại mà người thi công có lỗi thì việc họ có phải bồi thường hay không vẫn là vấn đề còn tồn tại những ý kiến khác nhau.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường chỉ thuộc về chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý, sử dụng như Điều 627 Bộ luật dân sự trước đây đã quy định.

Ý kiến khác lại cho rằng, việc pháp luật không quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công không có nghĩa rằng người thi công không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại. Theo đó, nếu người thi công có lỗi thì họ cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, và cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm của họ là quy định chung về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Điều 604 Bộ luật dân sự cũ và các quy định có liên quan đến việc áp dụng tương tự pháp luật.

2. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm

Các trường hợp loại trừ trách nhiệm không được quy định tại Điều 605 mà được quy định chung trong Điều 584 cho tất cả các trách nhiệm. Theo đó, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ được loại trừ trách nhiệm bồi thường trong trường hợp: “thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” (khoản 2 Điều 584).

Nghiên cứu quy định này có thể thấy các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại, BLDS năm 2015 chưa được quy định đầy đủ. Cụ thể, Bộ luật đã “bỏ qua” trường hợp được loại trừ trách nhiệm bồi thường trong trường hợp thiệt hại xảy ra “hoàn toàn do lỗi của người thứ ba”. “Người thứ ba” ở đây có thể là cá nhân, tổ chức bất kỳ hoặc cũng có thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trên thực tế, có rất nhiều công trình xây dựng thuộc danh mục di tích lịch sử phải bảo tồn (nhà cổ, đền, chùa…). Đối với những công trình này, việc sửa chữa phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vậy, nếu trong trường hợp vì cơ quan có thẩm quyền không cấp phép sửa chữa khiến công trình bị xuống cấp rồi sụp đổ thì ai phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại? Nếu căn cứ vào khoản 2 Điều 584 BLDS năm 2015 thì đây không thuộc các trường hợp để được loại trừ trách nhiệm bồi thường (thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại). Do đó, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Điều này không phù hợp với lẽ công bằng.

3. Một số điểm mới về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra trong Bộ luật dân sự 2015

Thứ nhất, BLDS năm 2015 đã bổ sung một chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại đó là “người chiếm hữu”. Tuy nhiên, nếu bổ sung người chiếm hữu thì nên bỏ quy định về “người quản lý” bởi vì khái niệm chiếm hữu đã bao gồm cả khái niệm quản lý trong đó.

Thứ hai, BLDS năm 2015 đã mở rộng phạm vi các trường hợp bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Theo đó, tất cả các trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì đều phát sinh trách nhiệm bồi thường nếu đủ các điều kiện.

Thứ ba, hai căn cứ loại trừ cũng được bỏ đi là “hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại” và “sự kiện bất khả kháng”. Những quy định này đã được đề cập trong khoản 1 Điều 584 và áp dụng cho mọi trường hợp.

Thứ tư, BLDS năm 2015 bổ sung quy định liên quan đến trách nhiệm của người thi công: “Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này trên thực tế đòi hỏi phải thật chính xác, bởi vì sẽ dễ bị nhầm lẫn giữa trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại với hành vi thi công nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra thiệt hại.

4. Ví dụ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà ở, công trình xây dựng gây ra

Hợp tác X có một khu nhà kho cũ, có tường rào xây bằng gạch bao quanh. Hợp tác xã cho anh T thuê để làm xưởng sản xuất nông cụ với thời hạn 5 năm. Một hôm, bức tường rào đột nhiên đổ sập, gây thiệt hại cho 2 cháu A và B khi đang chơi bên ngoài tường rào. Cơ quan điều tra tìm ra nguyên nhân bức tường xây đã lâu, chất lượng kém, chỉ xây bằng vôi và cát mà không có xi măng, tường xây cao 2 m lại không có móng.

– Ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho 2 cháu A và B?

Theo Điều 605 Bộ luật dân sự 2015:

"Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.

Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường."

Trong trường hợp này, Hợp tác xã X là chủ sở hữu công trình xây dựng, nhưng hiện tại đang cho anh T thuê, quản lý, sử dụng. Vì vậy, theo Điều 605 BLDS 2015, anh T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi bức tường đổ gây thiệt hại.

5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng là tài sản nhà nước

Theo Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 thì:

Luật này quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; phục hồi danh dự; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước.

Như vật, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra. Còn quy định trách nhiệm bồi thường do tài sản nhà nước gây thiệt hại thì chưa quy định.

Do đó, khi bị thiệt hại do công trình, nhà cửa thuộc sở hữu nhà nước gây thì không có căn cứ để yêu cầu bồi thường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./